Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Hà Minh Đức sinh năm 1935 tại Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Từng giữ chức Viện trưởng Viện Văn học (1995-2003). Được phong học hàm Giáo sư năm 1991; danh hiệu cao quý Nhà giáo nhân dân năm 2000; Giải thưởng Nhà nước về Khoa học xã hội năm 2000; Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001. Tác giả của gần 40 công trình nghiên cứu - lý luận - phê bình văn học, đồng thời cũng là tác giả của 5 tập thơ và 6 tập ký văn học; đã xuất bản "Hà Minh Đức tuyển tập" (3 tập, 2004).
Tôi nhập học vào Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội khóa 14 (1969-1973). Hồi đó đang chiến tranh, nên địa chỉ gửi thư vẫn còn bí mật theo phiên hiệu T104 (mã số trường), E (mã số khoa). Họ hàng người thân lúc đầu cứ tưởng tôi phục vụ trong quân đội hay lực lượng Công an. Chúng tôi nhập học ở làng La Khê, Hà Đông và ở đó cho hết năm thứ nhất thì chuyển ra Thanh Xuân (ở địa điểm của Trường Đại học Hà Nội bây giờ).
Thầy Hà Minh Đức là một trong những giảng viên đầu tiên chúng tôi được thụ giáo nghề văn. Năm đó thầy mới ba mươi tư tuổi, nhưng nếu so với tuổi ấy bây giờ, thì thầy đạo mạo và già dặn hơn nhiều. Thầy quê ở Thanh Hóa nhưng giọng nói dễ nghe như người xứ Bắc Hà chính cống. Trước khi diện kiến thầy Hà Minh Đức, chúng tôi may mắn được học những tiết ngôn ngữ đầu tiên ở Khoa Ngữ văn với thầy Nguyễn Tài Cẩn. Chúng tôi "tâm phục khẩu phục" khi nghe thầy Nguyễn Tài Cẩn giảng bài. Nói theo cách bây giờ thì thầy hội tụ đủ "3 trong 1": nhà giáo, nhà khoa học và nhà nghệ sĩ.
Thầy Nguyễn Tài Cẩn nói không chỉ bằng miệng, mà còn bằng ánh mắt, cử chỉ dáng điệu, hay nói cách khác thầy nói bằng cả tâm hồn của mình. Bục giảng như là một sân khấu nhỏ mà diễn viên kì tài độc nhất chính là thầy. Vì chúng tôi là lớp Văn nên chỉ được học với thầy Nguyễn Tài Cẩn một môn học ngôn ngữ mà thôi. Trong số các giảng viên dạy ở Khoa Ngữ văn, thầy Hà Minh Đức để lại ấn tượng sâu đậm cho nhiều thế hệ sinh viên, trong đó có tôi.
Với tư cách là một giảng viên đại học, thầy Hà Minh Đức vừa đóng vai nhà giáo vừa đóng vai nhà nghiên cứu văn học. Học trò các thế hệ vẫn truyền nhau câu hỏi chưa có lời đáp "Thầy làm việc lúc nào và làm việc bằng cách nào mà công trình nối tiếp công trình được xuất bản trong khi bề ngoài thầy lúc nào cũng nhẹ nhõm, thanh nhàn, ung dung tự tại?".
Năm 1961, lúc mới 26 tuổi, thầy đã công bố tác phẩm đầu tay Nam Cao, nhà văn hiện thực xuất sắc (NXB Văn hoá, 1961) được đánh giá cao ngay lúc bấy giờ và cho đến nay vẫn được xem là công trình đầy đặn nhất nghiên cứu về Nam Cao. Sau này nhân lúc chuyện trò vui vẻ, thầy cho biết nếu lúc đó nhận tiền nhuận bút mà mua nhà thì thầy đã có một căn nhà ở mặt phố trung tâm Hà Nội. Nhưng rồi thầy kết luận như một kinh nghiệm và triết lí sống giản dị "Nói chung là không nên tiếc cái gì đã qua mà ta không làm được!".
Những thành tích nổi bật trong các lĩnh vực của thầy là hiển hiện và đã được xã hội ghi nhận khi thầy đồng thời nhận được hai giải thưởng Nhà nước (trong hai năm 2000 và 2001). Là một học trò và về sau là đồng nghiệp của thầy, 42 năm qua, tôi có cơ hội để gần gũi và học hỏi được ở thầy không ít kinh nghiệm nghề nghiệp và cả kinh nghiệm sống quý giá.
Các thầy cô giáo khoa Ngữ văn nói chung đều có phẩm tính nghệ sĩ (bằng chứng là ở Khoa Ngữ văn từ ngày thành lập năm 1956 đến nay có 11 thầy, cô giáo là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam). Nhưng tôi cứ nghĩ thầy Hà Minh Đức là một nghệ sĩ đặc biệt khi ở độ tuổi sáu mươi thầy mới cầm bút sáng tác. Nhưng theo tôi, phải nói thế này mới đầy đủ: bác học và nghệ sĩ là hai phẩm tính hài hòa, tạo thành đôi cánh nâng tầm vóc của thầy lên như ngày hôm nay. Đã nhiều người viết về phẩm tính bác học và năng khiếu sư phạm như là thiên phú của thầy Hà Minh Đức. Riêng tôi muốn nói đến phẩm tính nghệ sĩ của một nhà giáo mẫu mực.
Chúng tôi vẫn nói đùa "Thầy Hà Minh Đức là một nhà thơ trẻ" (vì khi xuất bản tập thơ đầu tay, thầy đã 64 tuổi), nghe thế thầy cũng chẳng giận, trái lại vẫn cứ vui và "thưa" lại rằng "gừng càng già càng cay đấy!". Tập thơ đầu tay của thầy Đi hết một mùa thu (1999) và các tập tiếp theo ở giữa ngày đông (2001), Những giọt nghĩ trong đêm (2002), Khoảng trời gió cát bay (2003) và Ngoài trời còn mưa (2007).
Tôi rất thích nhận xét của nhà thơ Tố Hữu về thơ của thầy Hà Minh Đức "ấn tượng đầu tiên là anh đã nhầm lẫn về thời gian. Anh nói là ở giữa ngày đông nhưng thực ra hồn thơ đang ở giữa thu (…). Đọc thơ anh tôi có cảm giác anh thuộc phái ấn tượng. Có thể anh không chủ trương về trường phái mà tự nhiên toát ra từ thơ. Thơ anh đi giữa hai bờ hư và thực" (Hà Minh Đức: Tố Hữu. Cách mạng và thơ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004). Thơ của thầy Hà Minh Đức chất chứa hoài niệm về dĩ vãng đẹp nhưng buồn, về sự trôi đi vô tình của thời gian trong khi con người thì cứ cuống quýt sống và tham lam khát vọng.
Nếu như trong những vần thơ đầu tiên tác giả luôn khắc khoải với Thu nhiều nắng vàng và xao xác lòng người thì gần đây, có thể tâm thế nhà thơ đã khác, nên trong thơ độc giả thấy hiện lên Xuân ấm áp (Lễ hội ngày xuân, Mưa xuân Hà Nội, Trang trải với mùa xuân…). Năm tập thơ với hơn 150 bài, nhìn sâu vào đó, độc giả thấy rõ một tâm hồn thi nhân nhạy cảm (dễ xúc động mà cũng dễ bị tổn thương), luôn luôn trải lòng mình với đời, với người. Đọc thơ của thầy thấy hiện lên một chủ thể tinh tế, đằm thắm, hiền hậu, phóng khoáng và là người biết chắt chiu cái đẹp.
Nhưng còn một tác giả văn xuôi Hà Minh Đức với 6 tập ký văn học có sắc thái nghề nghiệp. Nhiều người biết thầy Hà Minh Đức từng giữ chức Chủ nhiệm khoa Báo chí (nay là Khoa Báo chí - Truyền thông, Trường Đại học KHXH & NV, ĐHQG Hà Nội), tác giả của nhiều công trình về nghề báo nên cây bút này chọn thể ký để ghi lại những quan sát của mình về đời sống đa dạng, phức tạp nhưng rất đáng quan tâm và đáng sống vui buồn với nó.
Sáu tập ký văn học của thầy Hà Minh Đức hiện được lưu giữ ở phòng truyền thống của Khoa Văn học: Vị giáo sư và ẩn sĩ đường (1996), Ba lần đến nước Mỹ (2000), Tản mạn đầu ô (2002), Đi một ngày đàng (2004), Người của một thời (2009), Nước Nga - Thu vàng và miên man tuyết trắng (2010). Mỗi lần có tác phẩm mới được in, thầy đều chọn vào ngày thứ hai hàng tuần (ngày giao ban Khoa nên khá đông đủ các thầy, cô giáo) vào thăm đồng nghiệp và tặng sách. Tôi vẫn thường nói với mọi người rằng, trong số các giáo sư của Khoa Văn học thì thầy Hà Minh Đức là người tặng sách đồng nghiệp nhiều nhất. Dường như với thầy, niềm vui nhân đôi là niềm vui lớn. Riêng tôi, được tặng khá nhiều sách và cuốn nào thầy cũng trân trọng ghi "Thân tặng anh Bùi Việt Thắng" với một chữ ký rất đẹp (nếu người nào biết xem chữ ký thì sẽ hiểu đây là một con người có chí lớn và tình lớn).
Đọc ký của thầy Hà Minh Đức tôi và nhiều độc giả khác nhận ra một năng lực quan sát đời sống, nếu có thể nói, tới mức "thấu thị". Riêng tôi thích những bài ký gọn ghẽ, sắc nét và tinh tế như Hà Nội xích - lô đối thoại ký, Tản mạn đầu ô, Chuyện ẩm thực ở chốn cao ốc, ô tô phong trần ký, Thăm phố cổ nhớ người xưa… Phải là người sống lâu ở Hà Nội, tất nhiên, nhưng còn phải là người yêu và hiểu Hà Nội đến chân tơ kẽ tóc mới viết được những trang bút ký sinh động đến như thế. Tôi thích sự quan sát tinh tế của tác giả về cuộc sống ở một cửa ô Thủ đô: "Từ mấy năm nay tôi về sống trong khu tập thể của một trường đại học gần ô Đống Mác… Không khí đầu ô nhộn nhịp từ rất sớm. Khi nắng lên thì mọi người đã tản hết. Và chiều về lại lao xao họp lại… Có người nhận xét rằng ở đầu ô trời mau tối hơn mọi nơi, bầu trời xẫm, phố xá cột đèn thì nhiều mà ánh sáng thì ít. Có thể là như thế… Đầu ô, từ tên gọi cho đến địa hình hay gợi lên nhiều chuyện khổ, chuyện buồn tự ngàn xưa. Những người đi xa xứ, khi nghĩ về Hà Nội thường đọng những kỉ niệm buồn nơi đầu ô với nhiều cảm thương... Đầu ô bây giờ đã khác trước. Thành phố đi về bốn phương không phải chỉ qua năm cửa ô. Các ô trở thành những cái mốc, những chứng tích lịch sử để hồi tưởng lại một bức tranh về thành phố. Trong vòng vây của năm cửa ô lại là một thành phố hẹp. Sức lớn, sức bật đang mở ra bốn hướng để cho cửa ô chỉ còn là di tích nhỏ giữa mênh mông thành phố, bộn bề cao rộng" (Tản mạn đầu ô).
Ít người biết thầy Hà Minh Đức còn là một diễn giả có duyên chuyên nói chuyện thơ ở các câu lạc bộ có tiếng ở Hà Nội và nhiều tỉnh, thành khác khắp cả nước. Tôi còn nhớ một kỉ niệm thời chiến tranh chống Mỹ, năm 1972, sinh viên năm thứ ba Khoa Ngữ văn được tung vào thực tế, thành lập các tổ xung kích phục vụ các đơn vị bộ đội, công nhân các nhà máy, xí nghiệp, thanh niên xung phong ở các tuyến đường ác liệt. Mỗi tổ xung kích thường có năm bảy người, được tập huấn chủ yếu một nhiệm vụ - mang thơ ca đến với quần chúng. Thế là chúng tôi học diễn thuyết với các chủ đề Tổ quốc - Nhân dân - Con người Việt Nam anh hùng trong thơ ca chống Mỹ. "Huấn luyện viên" của chúng tôi không ai khác là thầy Hà Minh Đức. Có hôm tập huấn vào ban đêm, trò không nhìn rõ mặt thầy, chỉ nghe giọng nói trầm ấm nhưng rất vang của diễn giả. Về nhà chúng tôi "diễn" lại, rồi tranh luận, góp ý, bổ sung thật sôi nổi và vui vẻ.
Có hôm nhóm chúng tôi đặc cách được thầy "phụ đạo" nên mọi người rất tự tin khi tác nghiệp. Một lần tôi đóng vai diễn giả đến nói chuyện thơ tại Nhà máy Gỗ Cầu Đuống cho một ca thợ làm đêm. Cuộc nói chuyện thơ diễn ra trong đêm, không đèn, thỉnh thoảng tiếng còi báo động có máy bay Mỹ lại rú lên. Nhưng tất cả diễn ra bình thường vì hình như "ở chiến trường nghe tiếng bom rất nhỏ" như câu thơ của Phạm Tiến Duật đã diễn tả rất chính xác và tinh tế. Tôi nói liền một mạch 60 phút, sau đó tốp ca của tổ xung kích trình diễn liền 5 bài hát, được cả trăm người nghe vỗ tay nhiệt liệt (không biết họ vỗ tay vì bài hát hay vì diễn giả nói chuyện thơ?!).
Mấy hôm sau có lời khen của cơ sở, chúng tôi rất phấn khởi và đều thống nhất ghi công đầu cho thầy Hà Minh Đức (đúng là "không thầy đố mày làm nên"). Tôi đã mấy lần chứng kiến diễn giả Hà Minh Đức nói chuyện thơ có minh họa của một nghệ sĩ ngâm thơ nổi tiếng một thời những thập kỉ cuối của thế kỉ trước. Khán phòng những hôm đó chật kín người nghe, tiếng vỗ tay nồng nhiệt hồi lâu sau khi diễn giả và nghệ sĩ ngâm thơ kết thúc phần trình diễn.
Trong tầm quan sát và trải nghiệm của mình, tôi đã vài lần nhận biết tài nói chuyện thơ có một không hai của "ông hoàng thơ tình yêu" Xuân Diệu, của "thi sĩ thảo dân" Nguyễn Duy (cựu sinh viên Khoa Ngữ văn). Đó là những buổi nói chuyện thơ náo nức cả diễn giả lẫn thính giả.
Thầy Hà Minh Đức có cách riêng để đi vào lòng người yêu thơ. Phong cách điềm đạm, vừa bác học vừa nghệ sĩ, sự nhuần nhị trong năng lực chiếm lĩnh thơ ca (cả về lí thuyết lẫn thực tiễn), phản xạ nhạy bén của một người đứng trên bục giảng đại học nhiều năm đã tăng phần chủ động của diễn giả lên bội phần. Nhưng không thiếu hóm hỉnh và hài hước. Thành công của những buổi nói chuyện thơ của thầy Hà Minh Đức không vang dội như Xuân Diệu nhưng có dư ba.
Bảy mươi sáu tuổi, ngày xưa đã là "nhân sinh thất thập cổ lai hi", nhưng với thầy Hà Minh Đức, sức sống và sức sáng tạo vẫn còn dồi dào. Tôi vẫn thấy thầy xuất hiện ở trường, ở cơ quan cũ (Viện Văn học), ở trụ sở Hội Nhà văn Việt
Hà Nội, cuối thu năm 2011
| Cho đến năm 2011, thầy đã sở hữu gần 40 công trình nghiên cứu - lý luận - phê bình văn học với tư cách tác giả độc lập và chủ biên 13 công trình khoa học ngữ văn khác. Thầy Hà Minh Đức là một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu - lý luận - phê bình thơ với những tác phẩm tiêu biểu như Thơ ca Việt Nam - hình thức và thể loại (viết chung với Bùi Văn Nguyên, 1968), Thơ và mấy vấn đề thơ Việt Nam hiện đại (1974), Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà thơ lớn của dân tộc (1979), Thực tiễn cách mạng và sáng tạo thi ca (1979), Nguyễn Bính thi sĩ của đồng quê (1994), Một thời đại trong thơ ca (1996), Tố Hữu. Cách mạng và thơ (2004), Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu (2009), Huy Cận ngọn lửa thiêng không tắt (2010), Chế Lan Viên, người trồng hoa trên đá (2010), Tế Hanh mãi mãi tuổi hoa niên (2011)… |