Trao đổi với PV Báo CAND, Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học Công an khẳng định, song song với việc chuẩn bị hồ sơ kiện Trung Quốc, chúng ta phải kiên trì các giải pháp, trong đó những mặt trận nào còn “trống”, còn dư địa thì phải nhanh chóng lấp đầy, đặc biệt là mặt trận ngoại giao nhân dân cần phải đẩy mạnh cao hơn nữa.
PV: Thưa Thiếu tướng, để việc kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế được chuẩn bị chu đáo, khoa học và chính xác, chúng ta phải bắt đầu từ đâu?
Thiếu tướng Lê Văn Cương: Câu chuyện nào thì cũng phải có đầu có cuối. Thông thường trên thế giới có bốn phương thức giải quyết tranh chấp quốc tế: một là thương lượng tìm giải pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; hai là nhờ bên thứ ba làm trung gian hòa giải (ví dụ như CHDCND Triều Tiên, Hàn Quốc không ngồi được với nhau nên mới có đàm phán sáu bên); thứ ba là đưa nhau ra các cơ quan tài phán quốc tế. Nếu các phương thức trên không hiệu quả thì sẽ có phương thức thứ tư là dùng quân sự, vũ lực.
Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 24 ở Myanmar và trong trả lời phỏng vấn tại Manila (Philippines) vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói rõ ràng Việt Nam kiên trì theo phương thức đàm phán hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế - tức là phương thức thứ nhất, nhưng không từ bỏ phương thức nào cả. Chẳng hạn, năm 1979 khi Trung Quốc tấn công chúng ta thì chúng ta đáp trả. Nói cách khác, khi chủ quyền bị xâm phạm trắng trợn thì chúng ta phải tự vệ.
Tôi nghĩ rằng chúng ta cần chuẩn bị cả bốn phương thức, nhưng lúc này phương thức đàm phán song phương trên cơ sở luật pháp quốc tế để tìm giải pháp hòa bình vẫn còn dư địa, chưa khai thác hết. Với tư cách là người nghiên cứu khoa học, tôi nhận thấy dư địa này rất rộng rãi, cần thúc đẩy mở rộng và nâng cao lên nữa.
PV: Thiếu tướng đã từng kiến nghị, phải đẩy mạnh giải pháp hòa bình ở mức cao hơn, mạnh mẽ hơn. Thiếu tướng có thể chia sẻ sâu hơn về kiến nghị đó?
Thiếu tướng Lê Văn Cương: Dư luận quốc tế đang ủng hộ chúng ta mạnh mẽ, cũng là nhờ chúng ta đã đẩy mạnh giải pháp hòa bình, đàm phán song phương trên cơ sở luật pháp quốc tế. Nhưng giải pháp này, chúng ta làm chưa hết “công năng”. Theo tôi, sắp tới cần phải có một công hàm chính thức của Nhà nước, đại diện là Chủ tịch nước ký, gửi Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình. Công hàm này cần nói rõ hành động của Trung Quốc đã vi phạm luật pháp quốc tế, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS), Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tuyên bố của các bên về ứng xử ở biển Đông (DOC), ba tuyên bố chung giữa lãnh đạo cấp cao Việt Nam và Trung Quốc từ năm 2011 đến nay... Công hàm đó cần nêu lên sự phản đối, yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan khỏi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt
PV: Nhiều học giả khẳng định, nếu kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, chúng ta chắc thắng. Quan điểm của Thiếu tướng?
Thiếu tướng Lê Văn Cương: Rõ ràng chúng ta có cả đạo lý và pháp lý thì không có gì phải e ngại khi kiện một nước lớn ra tòa. Nhưng như tôi nói, việc chuẩn bị hồ sơ, chứng lý pháp lý chúng ta vẫn cứ làm. Và phải xác định ra tòa quốc tế không hề đơn giản như chúng ta nghĩ. Trung Quốc cũng rất mưu mẹo, không dễ gì bác bỏ, nên hồ sơ càng chu đáo, cẩn thận bao nhiêu, chúng ta càng có lợi thế bấy nhiêu. Còn hiện tại phải đẩy mạnh mặt trận ngoại giao nhân dân lên một mức mới, quyết liệt hơn. Các hiệp hội, ban, ngành, tổ chức đoàn thể phải vào cuộc mạnh mẽ. Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phải có tiếng nói với Hiệp hội Khoa học Trung Quốc; Hội Cựu chiến binh Việt Nam phải có quan điểm với Hội Cựu chiến binh Trung Quốc; rồi Hội Phụ nữ, Hội Nông dân cũng đều phải lên tiếng, làm thành một phong trào rầm rộ, bền bỉ. Vì cuộc đấu tranh này còn nhiều gian nan lắm. Hai dân tộc Trung Hoa và Việt
PV: Chúng ta đã công bố công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 và khẳng định, công thư đó không có giá trị pháp lý trong việc xác định chủ quyền Trường Sa, Hoàng Sa. Xin Thiếu tướng nói rõ hơn về vấn đề này?
Thiếu tướng Lê Văn Cương: Điều 4 của Hiệp định Giơnevơ đã nói rõ Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam, Trung Quốc cũng ký kết vào Hiệp định đó. Có cả 10 nước châu Á cũng ký kết vào Hiệp định Giơnevơ. Sau đó năm 1958 mới có công thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Thực tế, công thư này chỉ ghi nhận Trung Quốc tuyên bố chủ quyền lãnh hải 12 hải lý, không nhắc gì đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng phải nói thêm là năm 1958, tương quan lực lượng giữa Mỹ và Trung Quốc khác xa nhau. Tại bờ biển Hoa Đông, tàu Mỹ giương oai tại bờ biển Phúc Kiến đối diện với Đài Loan. Bị sức ép của Mỹ, Trung Quốc phải ra tuyên bố ngày 4/9/1958 tuyên bố hải phận 12 hải lý (nhưng tuyên bố này cũng không được thế giới thừa nhận). Việt Nam thời điểm đó là láng giềng của Trung Quốc, nên đã ủng hộ Trung Quốc bằng thông điệp gián tiếp trong công thư: 25 triệu người dân Việt Nam luôn sát cánh cùng Trung Quốc chống Mỹ. Đây không phải là kết quả thương thảo giữa Việt Nam và Trung Quốc về chủ quyền biển đảo. Công thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đặt cạnh Hiệp định Giơnevơ thì giá trị pháp lý nhỏ hơn nhiều. Không thể lấy cái thấp hơn để phủ nhận cái cao hơn được