H. khóc. Nước mắt đắng đót và nỗi ám ảnh kinh sợ về món nợ 120 triệu cần phải trả sau khi ra khỏi trại giam đẩy H. xuống hố sâu tuyệt vọng. Bởi với H. khoản tiền ấy quá lớn, vượt quá khả năng thanh toán của H.
Số phận bạc đãi đứa trẻ mồ côi
Sinh ra và lớn lên tại mảnh đất Bảo Lộc – Lâm Đồng, cuộc đời của H. là chuỗi ngày bất hạnh. Mồ côi cha từ khi còn nhỏ, không bao lâu mẹ qua đời, H. bước vào đời với cái trống trải vô hạn của một đứa trẻ thiếu vắng bàn tay chăm sóc, nâng niu của cha mẹ. H. nhớ lại quãng thời gian thơ ấu đầy khốn khó, chứng kiến cảnh ông ngoại ốm liên miên, một mình bà ngoại nuôi chồng bệnh tật, người con trai tâm thần và thêm hai đứa cháu mồ côi tưởng chừng quật ngã bà bất cứ lúc nào. Nhưng chính ở người đàn bà ấy hội tụ một sức sống tiềm tàng và chính bà ngoại đã dạy H. cách sống mạnh mẽ, đối diện với những tai ương, sóng gió trong đời. Nhưng, sinh – lão – bệnh – tử là quy luật bất biến của đời người, những người ruột thịt thân yêu nhất của H. lần lượt rời xa cô.
Trong kí ức của cô là những chuỗi ngày giá lạnh, một mình chon von kĩu kịt gánh hàng rong lên phiên chợ sớm. Hàng hoá chẳng nhiều nhặn gì, chỉ là vài ba bắp ngô non luộc chín dừ, là vài cân hoa quả nhà trồng được mang ra chợ bán. Tiền lời lãi chẳng được bao nhiêu, lại có bận gặp phải vận đen, lơ là khách khứa đông đúc, chiếc ví được khâu bằng vải bị lấy trộm lúc nào chẳng hay. Mỗi lần như thế, H. chỉ biết lặng người khóc toáng lên trong ánh nhìn ái ngại, thương cảm của người đi chợ. Biết không có duyên buôn bán, H. không còn được phân công ra chợ bán hàng, thay vào đó, ngày ngày cô bé cùng dì lên rẫy làm ngô, làm mì. Ngọn rau, bát cháo lõng bõng gánh tuổi thơ của H. đi qua những ngày thiếu thốn.
Giống như bao chị em cùng lứa tuổi thôn quê, H. lập gia đình khi chớm vào tuổi đôi mươi với một người đàn ông khoẻ mạnh, có sức vóc. Hạnh phúc bên người chồng tảo tần, chịu thương chịu khó, biết thương vợ phần nào xoá đi nỗi đắng cay của tuổi thơ bất hạnh trong H. Đặc biệt, hai người con cả nếp cả tẻ lần lượt chào đời làm bừng lên trong H. niềm hạnh phúc và tin tưởng về một tương lai ấm áp, sáng sủa của vợ chồng. Trong bữa cơm chiều đạm bạc, H. vẫn thường nhỏ nhẹ với chồng: “Vợ chồng mình gắng làm ăn chăm chỉ. Gia cảnh có nghèo khó mấy nhưng chỉ cần chúng mình chung lưng đấu cật, làm ăn tử tế ắt có ngày được mở mày, mở mặt với thiên hạ”. Mỗi khi nhận được ánh nhìn khích lệ của chồng, tiếng bi bô gọi mẹ của hai con, H. càng có thêm nhiều nghị lực vượt qua chướng ngại vật chất chồng trong cuộc sống.
Hai vợ chồng cùng chăm chút mảnh vườn trước nhà. Từ một mảnh đất cằn hoang, vợ chồng H. đã khai sinh sự sống cho nó. Mảnh vườn ấy có ý nghĩa đặc, được vợ chồng H. ví như “nồi cơm” của gia đình. Mùa nào thức ấy, từ rau bắp cải, xà lách cho tới ngô, mận…đều được vợ chồng H. quy hoạch và tăng canh hợp lý. Đời sống vì đó bớt khó khăn.
Song cuộc đời vốn hay trêu ngươi kẻ khó. Sau một trận ốm kéo dài, chồng H. như biến thành một con người khác. Từ một người đàn ông hoà nhã, vui vẻ, được coi như “hoạt náo viên vui nhộn” của gia đình, trở thành một người khép mình, ít nói, trầm mặc. Nụ cười cũng tự dưng biến mất.
Có lần H. trở về nhà, trước mặt chị là cảnh chồng ngồi trong góc phòng, hai tay ôm chặt đầu, lảm nhảm những điều vô nghĩa, đôi mắt vô hồn rơi vào trống rỗng. H. hoảng hồn chạy tới lay chồng khỏi thế giới vô định đó, nhưng đáp trả lại sự cố gắng của chị là cái vòng tay ôm xiết đầu và tiếng ú ớ kinh sợ từ anh hất ngược. Nhìn cảnh ấy, hai đứa con của H. khóc lóc, vừa sợ, vừa thương ba.
Chạy vạy khắp nơi được hai triệu bạc, H. đón xe cùng chồng vào Sài Gòn khám bệnh. Các bác sĩ chẩn đoán, chồng H. mắc bệnh trầm cảm khá nặng và cho thuốc về uống. Mỗi lần phát bệnh, anh lại thường ngồi thu lu một góc, lấy hai tay đập vào đầu và miệng lẩm nhẩm điều gì đó, thuốc chỉ có công hiệu một thời gian, sau lại đâu vào đấy.
Điều H. sợ hãi nhất và cũng thương nhất ở chồng là dù có phát bệnh, nhưng anh không bao giờ phá phách, hay là người khác đau đớn. Anh chỉ tự làm đau chính mình. Có lần, anh lấy đầu đập vào tường tạo nên những vết xước, vết tụ máu tím tái ở vầng trán. Nhìn cảnh ấy, H. chỉ biết rớt nước mắt vì thương. Cơm vợ nấu anh không ăn, anh thường đi hoang, đi lang thang và nhiều bận chị cùng các con phải toả đi các hướng tìm chồng, tìm ba lúc nửa đêm, gà gáy. H. vẫn bảo “nghĩa tử là nghĩa tận”, chưa kể tới người đàn ông bệnh tật ấy là chồng của mình, cha của các con mình. Chị không bỏ rơi anh lúc anh nguy khốn, thậm chí càng thương, càng xót người đàn ông ấy hơn bao giờ hết. Và trong cơn túng bấn chạy vạy tiền nong chữa bệnh cho chồng, chị rơi vào vòng xoáy của tội lỗi.
Người chủ hụi trắng tay
Một dây hụi của H. có từ 15 – 18 người, trong đó H. là người cầm cái. H. tham gia 3 dây hụi. Nhưng, tính toán không minh bạch, H. dùng tiền của hụi này đóng vào hụi khác, tới khi không hoàn trả được, hụi bể bung bét và kết cục là H. bị đi tù với tội danh lạm dụng tín nhiệm, chiếm đoạt tài sản. H. bảo với tôi: “Đi tù thật dễ như bỡn” và điều ấy dường như đúng với người đàn bà này.
H. bảo, thời điểm khó khăn vì chơi hụi, tiền nong bù lỗ, bù lãi lung tung, H. lẳng lặng dàn xếp một mình. Nhìn chồng ốm đau, bệnh tật, H. chỉ sợ nỗi muộn phiền về các khoản nợ khiến anh thêm bệnh tật, H. chọn cách tự giải quyết. H. bảo, tính sĩ diện của chị ta lớn lao lắm. Có nghèo khổ cũng tự xoay xoả chứ chưa cầu viện sự giúp đỡ, tương trợ của bất cứ họ hàng, anh em nào. Và cho tới bây giờ, chị lại tự nhận mình “dại dột, ngu si”, bởi “nếu như lúc ấy tôi chạy vạy anh em, thì có lẽ đã không phải ngồi đây bóc lịch, đếm ngược từng ngày trở về xã hội như hôm nay”.
Điều làm H. đau khổ nhất, là nhìn con gái từ bỏ ước mơ của mình. Con gái của chị đỗ một trường cao đẳng ở thành phố Hồ Chí Minh, nhưng vì nghèo khó, không có tiền ăn học nên đành từ bỏ giấc mơ giảng đường. Cậu con trai làm thợ sơn, sống vật vờ trong căn gác trọ thuê tạm nay đây mai đó. Còn chồng chị, ngày thường anh đi bửa củi thuê, kiếm vài đồng bạc lẻ sống qua ngày, nhưng mỗi khi giở trời, anh lại lang thang như con thú hoang lầm lũi trên khắp các nẻo cao, đau đớn, khổ sở vì bệnh tật giày vò. Bấy nhiêu thôi, càng ngẫm càng khiến trái tim H. quặt thắt, buốt nhói.
H. bảo với tôi, chị vô cùng hoang mang với khoản nợ 120 triệu. Chị không phải người phụ nữ có sức vóc, không có đầu óc nhạy bén để buôn bán, làm ăn, sau này không biết kiếm đâu ra số tiền khổng lồ ấy để trả nợ. Nhà có mảnh vườn – “nồi cơm” của gia đình cũng phải bán đi để khắc phục nợ nần, nay chẳng còn gì ngoài 4 bức tường trơ chọi, trống hoác, ướt nhẹp mỗi khi bão về.
“Người ta bảo tôi “chiếm đoạt tài sản” hẳn có của ăn, của để, chẳng gì cũng đi cướp trắng của thiên hạ, nhưng nào ai ngờ, tôi chẳng có bất cứ thứ gì trong tay. Chồng bệnh tật, hai con khổ sở, vất vưởng, bản thân tù tội, nợ nần chất đống, tôi rùng mình mỗi khi nhắc tới ngày về, bởi bước ra khỏi cánh cửa trại giam, tôi sẽ phải đối diện với số tiền nợ, đối diện với ánh mắt nghi kỵ của mọi người. Không biết tương lai của gia đình tôi sẽ ra sao nữa”. – H. nhăn nhúm trong nước mắt.
Bản thân tôi cũng là một người phụ nữ, phần nào cảm nhận được nỗi đau, nỗi ân hận, giày xéo trong lòng H. Động viên chị mạnh mẽ đương đầu với hiện thực và nên chăng những ấp ủ về tương lai, nhưng, với H., có lẽ vẫn cần thêm thời gian để bình tâm trở lại.
Trong suốt cuộc trò chuyện, H. khóc rất nhiều. Những giọt nước mắt mang tên hối hận, sám hối, song dù vậy, nước mắt ấy không thể cứu vãn được quá khứ tội lỗi, chỉ mong từ những “giọt châu” đó, H. kiên cường, thẳng thắn đối diện với sai lầm và hướng tới tương lai với ánh nhìn tích cực hơn