NSND Trà Giang: Mối tình đầu tiên và mối tình cuối cùng

"Hồi ấy, tôi 25 tuổi, anh Ngọc 27 tuổi. Sau này, tôi đã cảm nhận một cách sâu sắc rằng, tôi đã gặp may khi lấy được anh ấy. Khi chồng tôi còn sống, tôi đã nói lên điều này với anh bởi tấm lòng, sự hiểu biết và sự hy sinh mà anh ấy dành cho mình. Yêu và lấy nghệ sĩ, anh ấy phải đối diện với nhiều điều ra tiếng vào, kể cả những đồn đại trong giới nghệ sĩ. Nhiều người hỏi anh, có ghen không? Ai mà không ghen, nhưng đã xác định vợ là nghệ sĩ rồi mà. Tôi đã được gặp một người chồng bao dung, đức độ và thương vợ hết lòng", NSND Trà Giang chia sẻ.

Tôi đã lên kế hoạch phỏng vấn Nghệ sĩ nhân dân Trà Giang từ hơn một năm trước, song vì nhiều lý do những cuộc hẹn không thành. Những món quà Hà Nội tới lớp học vẽ của bà, đó là lạc rang húng lìu bà Vân ở 76 Bà Triệu, trà Thái Nguyên của cụ bà trên đường Trần Nhân Tông và ômai quất hồng bì Vạn Lợi. Đó là ba đặc sản Hà thành khiến Trà Giang thích thú nhất.

Trở lại Sài Gòn dịp này, chúng tôi gặp nhau trong nước mắt khi cha của bà qua đời. NSND Trà Giang là con gái của NSƯT Nguyễn Văn Khánh. Theo cha ra Bắc tập kết, Trà Giang đã từng lên sân khấu biểu diễn. Bà đã có ý định thi tuyển diễn viên múa và cải lương. Nhưng sau này, Điện ảnh đã chọn Trà Giang và cho bà nhiều vai diễn để đời. Tôi gom nhặt những câu chuyện để tặng bạn đọc bài viết này, cũng là cách tri ân với người phụ nữ mà tôi rất kính trọng trong đời làm báo của mình.

- Cái tên Trà Giang đã có từ khi nào, thưa bà?

- Cái tên này đã có từ lúc tôi sinh ra vào năm 1942. Quê ba tôi ở Quảng Ngãi có con sông Trà Khúc. Ba lấy mẹ là người Phan Thiết. Tôi sinh ra ở Phan Thiết và cả 6 anh chị em tôi đều được ba mẹ đặt tên về quê hương Quảng Ngãi. Anh lớn là Ấn Sơn (núi Thiên Ấn), rồi đến Trà Giang, Bút Sơn, Thạch Bích… Tình yêu quê hương của ba đã truyền lửa cho chúng tôi luôn hướng về quê hương mình.

- Xem lại phim “Chị Tư Hậu”, có cảm giác tuổi 20 của thế hệ hôm nay không chững chạc như thế hệ của bà?

- Không biết có phải tôi già trước tuổi không, nhưng xem lại phim ấy cũng thấy mình già dặn quá. Tôi nhận vai Tư Hậu lúc 20 tuổi. Hồi nhỏ, tôi đã từng theo ba mẹ lên vùng kháng chiến, rất gian khổ, nhìn những trận Tây đưa quân đi càn, bắn giết nhân dân. Cảnh ba tôi đi hoạt động, má tôi bị bắt. Tôi cảm nhận được những điều có trong kịch bản và sống thật với tình cảm nhân vật. Tự tổng kết cuộc đời diễn viên của mình, trong các nhân vật mình đóng, từ vai Kiên trong phim Một ngày đầu thu, vai người phụ nữ công giáo không tiến bộ, rất an phận, ghen khi chồng đi hoạt động Cách mạng, đến vai Tư Hậu, nhân vật của tôi đã tiến lên một bước nữa, tầm nhân vật đã phát triển. Giờ đây khi được xem lại phim Chị Tư Hậu, tôi vẫn rất xúc động vì đạo diễn Phạm Kỳ Nam và anh Khánh Dư đã mất rồi. Bác Ba Du và nhiều người trong phim không còn nữa. Trở về kỷ niệm một thời trẻ của chúng tôi, thấy tự hào và nhớ mãi…

- Là người phụ nữ có đôi mắt to, đen sâu thẳm, diễn bằng nội tâm, trong các phim Ngày lễ thánh, Chị Tư Hậu, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, khán giả luôn nhìn thấy trong đôi mắt ấy nỗi đau thương và lòng uất hận, chan chứa cả những khát khao hạnh phúc. Bà có nghĩ rằng, đôi mắt là một lợi thế đặc biệt giúp bà thể hiện thành công các vai diễn của mình?

- Tôi không nghĩ mình có đôi mắt đẹp. Tôi chỉ nghĩ là, trong nghề diễn viên điện ảnh, đôi mắt là quan trọng nhất, thể hiện được tình cảm của nhân vật. Không hiểu sao đôi mắt của tôi nói được những điều khán giả cảm nhận. Tôi luôn trân quí tình cảm nơi người hâm mộ dành cho mình suốt những năm tháng qua.

- Bà là người hạnh phúc và may mắn khi được sống cùng thời với nhân vật. Hãy kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện làm phim đáng nhớ?

- Trong thời kỳ làm phim Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, chúng tôi đóng phim ở vùng Vĩnh Linh, gặp một đoàn du kích ban ngày ra nghỉ ngơi tập luyện, ban đêm vượt sông tuyến vào Nam chiến đấu. Trong những người tôi gặp để ghi chép cho nhân vật của mình, đó là o Thảo. Cuộc gặp gỡ ghi mãi dấu ấn trong tim tôi để tạo nên thành công cho vai Dịu. Sau này, vào năm 1999, đi Liên hoan Phim ở Huế, tôi và đạo diễn Hải Ninh trở về Gio Linh, Gio Thủy tay cầm ảnh o Thảo trên tay, mong gặp lại bà. Đến trước cơ quan Huyện ủy Gio Linh, mọi người ồ lên khi nhận ra người trong ảnh. Chúng tôi mừng lắm, và theo một đồng chí Huyện ủy lên xe về gia đình và biết được o Thảo đã hy sinh năm 1972. Cuộc gặp gỡ rất cảm động. Tôi và người chị dâu, em trai của o Thảo ôm nhau khóc. Chính tôi cũng không ngờ, khi bộ phim hoàn thành thì o Thảo đã hy sinh ở chiến trường Miền Nam. Những cuộc gặp gỡ như thế cứ làm cho ký ức trào về, hiển hiện những khuôn mặt người rám nắng, hanh hao và phảng phất nỗi buồn chiến tranh hằn lên trên nếp nhăn của họ.

NSND Trà Giang: Mối tình đầu tiên và mối tình cuối cùng ảnh 1
NSND Trà Giang và con gái Bích Trà.

Chúng tôi lấy việc đi thực tế là một hạnh phúc rất lớn. Trước tôi có chị Mai Châu, chị Đức Hoàn đều lên sống với người dân tộc Mèo, và sau đó khi ra trường, chúng tôi nối tiếp các chị. Phim nào chúng tôi cũng đều đi thực tế cả. Phim Lửa rừng lên vùng Ken Đu, vùng giáp ranh với Lào, không có đường ô tô, leo núi và lội suối 3 ngày đi bộ, đến ở với đồng bào, xem phong tục tập quán của đồng bào. Cứ có điều kiện là chúng tôi đi thực tế. Hồi ấy chúng tôi luôn có thái độ làm việc nghiêm túc.

Liên hoan Phim Mátxcơva năm 1973, có một nhà báo Mỹ đến gặp tôi. Tôi rất ngại, ngại họ có thiện chí hay không? Nhà báo nói thấy xấu hổ khi người Mỹ gây đau thương cho dân tộc Việt Nam. Nhà báo hỏi: Trong phim thì như vậy, liệu ngoài đời có như thế không? Tôi trả lời, ở nước tôi, giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh. Chị Út Tịch còn nói đánh giặc đến khi còn cái lai quần cũng đánh! Tôi mặc bộ áo dài dân tộc. Người phiên dịch không hiểu lai quần là gì. Tôi chỉ gấu quần phía dưới, nữ nhà báo Mỹ cười.

- Suy nghĩ của bà về nền điện ảnh Việt Nam hôm nay?

- Thế hệ diễn viên của tôi gặt hái được một số thành công, cố gắng hết sức của mình để diễn đạt cuộc sống của nhân dân trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Điện ảnh hôm nay, một người, một số người tâm huyết thôi chưa đủ. Hồi đó là cả một tập thể lớn luôn vì một nền điện ảnh dân tộc, vì nhau, trân trọng nhau và luôn quên mình.

Chúng tôi mừng và kỳ vọng nhiều vào các bạn nghệ sĩ trẻ hôm nay, họ sẽ thay thế xứng đáng lớp đàn anh.

- Từ năm 1990, bà không đóng phim nữa và đã từng đứng trên bục giảng. Nhưng chưa được bao lâu, bà nghỉ dạy và chuyển công tác về Viện Tư liệu phim. Vì sao bà không theo nghiệp giảng dạy như ba mình?

- Đó là bi kịch của tôi. Khi về Trường Điện ảnh, máu làm phim còn đeo đẳng. Tôi muốn được đi nhiều hơn và giao du với bạn bè. Tôi không kiên trì trong việc dạy dỗ vì khả năng sư phạm không có, và tôi thấy các em thích đi làm phim hơn và thích trở thành người nổi tiếng hơn là đến lớp trả bài cho thầy và xây dựng các tiểu phẩm. Tự tôi chán mình và bỏ cuộc. Đó là nhược điểm lớn nhất trong đời nghệ sĩ của tôi.

- Những kỷ niệm nào là dấu ấn nhất của bà với ba mình?

- Hồi tập kết ra Bắc cùng gia đình, chính ba tôi đã báo rằng sắp có một đoàn chuyên gia Liên Xô tuyển diễn viên điện ảnh. Tôi nghe lời ông đi thi và cũng rất tự tin khi đóng tiểu phẩm. Thực ra trước đó, mỗi lần ông dàn dựng vở diễn Epghênhi Ônêgin, tôi đã học được rất nhiều từ đọc thơ, diễn kịch và hát. Tiểu phẩm hôm thi tuyển diễn viên của tôi còn nhớ mãi là lấy bàn tay làm gương trang điểm. Ảnh tôi mang đi thi do chính tay ba chụp hình con gái. Ông mong cho tôi theo nghiệp nghệ thuật của cha và mong muốn “con hơn cha là nhà có phúc”. Sau này, khi sinh Bích Trà được 3 tháng, chính ông là người động viên tôi đi Liên hoan phim Quốc tế Matxcơva. Sau Hiệp định Paris được ký kết, cha tôi đã lấy những sợi dây điện Mac Namara nhiều màu tết thành giỏ xách tặng con gái để gửi tặng bạn bè. Lần sang Liên Xô dự Liên hoan phim, tôi đã tặng món quà ấy của ba cho một nhà báo Mỹ. Đó là món quà có ý nghĩa nhất dành tặng cho khán giả của Liên hoan phim và người bên kia chiến tuyến. Tôi hài lòng khi chọn nghề diễn viên không phải mang lại cho mình sự nổi tiếng, mà nghề này đã đưa tôi đến nhiều cuộc đời. Hàng ngày chăm sóc ông mà tôi vẫn ứa nước mắt vì quá thương yêu ba, vì sự nghiệp điện ảnh 40 năm qua của tôi luôn có ông ở đằng sau. Gia đình tôi có Trà Giang, Bích Trà và cháu gái Hồng Anh là nối nghiệp nghệ thuật của ba. Có một lần ông gọi riêng tôi vào phòng và đưa tiền nói mua một sợi dây chuyền thật đẹp để tặng cháu ngoại Bích Trà. Ông yêu nó và mong sự nghiệp của con gái tôi vẫn sẽ tiếp tục tốt đẹp hơn. Bích Trà đã luôn làm ông ngoại hài lòng trong những lần trở về lưu diễn tại Việt Nam.

- Bà có nghĩ mình là người hy sinh cho con gái theo đuổi nghề nghiệp, khi mà Bích Trà cứ muốn học mãi mà chưa về Việt Nam và chưa chịu lấy chồng?

- Có một điều này mà ít ai hiểu được là tôi ở cùng ba mẹ ruột và chăm ông bà đến khi các cụ lần lượt qua đời, mẹ tôi mất lúc 92 tuổi, 2 năm sau bố cũng theo mẹ về với tổ tiên. Bích Trà mỗi năm cũng thu xếp lịch về Việt Nam biểu diễn và ở nhà với tôi khoảng 2 tuần. Có lẽ là hơn 10 năm qua, ít khi tôi hỏi chuyện riêng của con, mặc dù trong lòng vẫn mong tin và lo lắng cho nó.

Tôi sinh được duy nhất một người con gái là Bích Trà, ghép tên đệm của mẹ và cha. Người ta nói sinh con một khó ngoan vì nó được nuông chiều. Tôi nuôi con như bao bà mẹ khác, dạy dỗ con sống khỏe mạnh và thương yêu mọi người, hướng cho con học hành chăm ngoan. May là Bích Trà rất thương yêu bố mẹ và ông bà. 14 tuổi Bích Trà sang Nga học tập, Trà đã viết thư về nhà cảm ơn ba mẹ đã dạy con nhân cách sống. 14 tuổi cháu đã biết nghĩ như thế. Liên Xô tan rã, sinh viên Việt Nam gặp khó khăn nhưng các giáo sư vẫn dạy dỗ tận tình và hướng cho con học tiếp ở Học viện Hoàng gia London. Những lần trở về nhà của Trà thật ngắn ngủi. Ban ngày con tranh thủ tập đàn, mẹ sang phòng vẽ. Ngày cuối tuần, cả nhà cùng đi viếng mộ. Khi anh Bích Ngọc còn sống, có lần con gái yêu tựa vào bờ vai tôi hỏi nhỏ: “Mẹ có thích con lấy chồng không?”. Tôi chỉ cười: “Chịu khó học đã, chuyện đó tính sau”. Sau này, những lần về nước bị hỏi hoài chuyện lấy chồng, Bích Trà cười tươi như hoa nói với mẹ: “Mẹ à, sao mỗi lần gặp con, mọi người đều cùng chung một câu hỏi: Trà, bao giờ cho bác ăn kẹo? Mẹ mua kẹo sẵn để trong nhà mời các bác nhé!”. Tôi biết con luôn muốn làm mẹ vui, kể cả trong câu chuyện kể về nó. Tôi không giục giã chuyện này, vì chính mình đã luôn khuyên nó học, mà hình như nó đang muốn học suốt đời… Học, như thể thấy luôn bị thiếu các tri thức âm nhạc hàn lâm trên thế giới. Tôi luôn tôn trọng con gái mà không bao giờ thấy có sự hy sinh ở đây. Anh Bích Ngọc đã đi xa 13 năm rồi và Bích Trà đã theo nghiệp đàn của bố. Thời bao cấp, nhà nghèo nhưng chúng tôi cũng dành dụm tiền mua đàn piano cho con, nhắc nhở con học hành đến nơi đến chốn và không được lùi bước. Chỉ tiếc là anh Bích Ngọc đã không được chứng kiến thành quả của Bích Trà sau 26 năm xa Tổ quốc và lập nghiệp nơi đất khách, không tận hưởng được hạnh phúc mà anh ấy luôn mơ về con gái mình…

- Khán giả yêu điện ảnh luôn gặp lại bà trên màn ảnh, trong các kỳ họp Quốc hội hoặc trên hàng ghế giám khảo các kỳ thi hoa hậu. Bà thấy những công việc này có phù hợp với mình không?

- Đấy là sự tín nhiệm của Chính phủ và của Ban tổ chức các cuộc thi sắc đẹp. Tôi thấy những việc này mình đã tham gia vì sự tín nhiệm ấy và tròn vai.

- Đã rất lâu rồi bà không đóng phim?

- Tôi chủ động không tham gia phim ảnh nữa do không theo kịp điện ảnh thời đổi mới. Đó là quyết định đúng đắn. Tôi biết tự cân bằng cuộc sống cho mình và đến với hội họa. Tôi tìm về màu sắc trong những bức vẽ hoa để làm vui cho mình. Lớp học vẽ của những người bạn lớn tuổi đã xích chúng tôi lại gần nhau hơn, thấy yêu cuộc đời hơn và muốn sống vì nhau. Năm 1999 là một năm bi kịch của đời tôi khi anh Bích Ngọc ra đi đột ngột. Tôi cũng tránh tham gia các sự kiện, phim ảnh và vùi mình bên giá vẽ. Tôi vẽ liên tục và cũng tham gia triển lãm tranh cùng bạn bè, với nhóm “Hương cỏ”. Có nhiều bức vẽ đẹp đã được người thân đặt mua với giá “tình thân” như tiếp thêm sức mạnh cho tôi đến với niềm đam mê mới.

Dừng cuộc chơi điện ảnh, tôi vẫn chưa thanh thản vì không nghĩ mình đã dừng lại. Tôi rất nhớ nghề, 20 năm không được diễn là nỗi đau rất lớn trong cuộc đời tôi.

- Thế hệ nghệ sĩ điện ảnh của bà và kể cả Khóa 2 sau này như Phương Thanh, Minh Châu, Thanh Quí… ít có tai tiếng dính líu đến xìcăngđan. Khán giả yêu điện ảnh ngưỡng mộ cái tên Trà Giang như một viên ngọc sáng của một thời gắn liền với điện ảnh Cách mạng, nhưng vẫn muốn có một chút tò mò về chuyện riêng của bà, chuyện mối tình đầu, chuyện với Giáo sư Bích Ngọc? Nếu được cho phép bà có điều gì muốn tâm sự không?

- Trong chuyện tình cảm của tôi thời con gái, ba cũng mong muốn tôi lấy người Miền Nam để trở lại Sài Gòn. Những anh chàng người Nam lăm le đến nhà, bao giờ ông cũng khoái hơn và vui ra mặt. Chuyện của tôi với anh Bích Ngọc như thế này, anh của anh ấy là nhà văn Nguyễn Thành Long có quen biết gia đình tôi và chúng tôi tìm hiểu nhau. Hồi ấy, tôi 25 tuổi, anh Ngọc 27 tuổi. Sau này, tôi đã cảm nhận một cách sâu sắc rằng, tôi đã gặp may khi lấy được anh ấy. Khi chồng tôi còn sống, tôi đã nói lên điều này với anh bởi tấm lòng, sự hiểu biết và sự hy sinh mà anh ấy dành cho mình. Yêu và lấy nghệ sĩ, anh ấy phải đối diện với nhiều điều ra tiếng vào, kể cả những đồn đại trong giới nghệ sĩ. Nhiều người hỏi anh, có ghen không? Ai mà không ghen, nhưng đã xác định vợ là nghệ sĩ rồi mà. Tôi đã được gặp một người chồng bao dung, đức độ và thương vợ hết lòng.

NSND Trà Giang: Mối tình đầu tiên và mối tình cuối cùng ảnh 2

- Giáo sư Bích Ngọc có phải là mối tình đầu của bà không?

- Đó là mối tình đầu và là mối tình lớn trong cuộc đời tôi.

Kỷ niệm đáng nhớ nhất với anh Bích Ngọc là tự anh cho con gái Bích Trà bú bình trong suốt một tuần lễ khi cháu mới ba tháng tuổi để tôi đi dự LHP Điện ảnh tại Mátxcơva.

- Nhưng sau này, ở những cuộc gặp mặt của anh em nghệ sĩ điện ảnh, mọi người vẫn nhắc đến một số cái tên, hình như gọi là có một chút chút tình cảm với Trà Giang. Không hiểu thực hư ra sao thưa bà, bởi vì ngày xưa, thuở đôi mươi của bà quá đẹp và nồng nàn, như những nhân vật trong phim của bà vậy?

- (Cười). Tôi biết thế nào chị cũng đưa tôi vào tình thế này, vì chị cũng biết những cuộc gặp với bạn bè thân yêu của tôi ở Hà Nội. Có lẽ không thể từ chối được câu hỏi này, nhưng liệu nói thật mọi người có tin không?

Tôi đóng phim Một ngày đầu thu, Chị Tư Hậu lúc 20 tuổi. Đoàn làm phim rong ruổi nhiều tháng trời. Thời của chúng tôi trong sáng lắm, có thích nhau và mê nhau cũng chỉ là sự cảm phục và trân trọng nhau thôi, có dám thổ lộ đâu. Có phim, cùng lúc nhiều anh quan tâm đến mình, quí mình, nhưng cũng chỉ dừng lại ở ánh nhìn và sự chiều chuộng thông thường của bạn đồng nghiệp.

- Thực ra, tình cảm của đạo diễn dành cho diễn viên nữ chính hơn người khác cũng là lẽ thường, đạo diễn Khánh Dư và đạo diễn Hải Ninh với Trà Giang thì như thế nào nhỉ?

- Tôi chưa hiểu lắm câu hỏi này, có đúng là, hai anh ấy có yêu Trà Giang không, đúng chưa?

Sau này, khi đã là ông, là bà, mỗi lần trở ra Hà Nội, tôi tránh nhiều cơ hội để ít gặp lại các anh vì sợ bị hiểu lầm. Nói ra không ai tin là chúng tôi không có chuyện gì và tôi không thanh minh. Chỉ biết rằng, tôi quí trọng anh Khánh Dư nhất vì sống hồn nhiên, chất nghệ sĩ mạnh, niềm vui thì anh thể hiện bằng la hét, không làm được thì anh vò đầu bứt tai, khó chịu. Có một chi tiết này, khi làm phim Chị Tư Hậu, tôi bị dị ứng phải ra Đồng Hới chữa bệnh, tôi phải ngủ lại đêm với một đồng chí phụ quay. Chị tin không, vẫn rất trong sáng…

Làm phim Lửa rừng, anh Trần Phương có tán tỉnh Trà Giang và Tuệ Minh, nhưng cũng chỉ dừng lại ở sự vui đùa cho đỡ căng thẳng mà thôi.

Ngạc nhiên nhất là trên một bài báo, một cựu cầu thủ có chơi thân với ba Khánh của tôi, nói rằng, vợ ông ghen với Trà Giang buộc ông ấy phải xé hết ảnh của bà. Thật là vô lý, khi một ai đó ngộ nhận về tình cảm của mình. Và như lời tâm sự của bà, rằng bà có tặng ảnh cho người đó bao giờ đâu?!

Còn một vài người nữa thì thiên hạ cũng đổ thừa kiểu “họ yêu nhau nhưng không lấy được nhau” nhưng phải thành thật với mình và lương tâm một điều là anh Bích Ngọc là tình yêu duy nhất trong cuộc đời của tôi. Sự quan tâm chăm sóc của chồng dành cho mình những ngày đi làm phim, nâng giấc ngủ, bóc quả cam, pha ly sữa và dạy tôi cách chèo thuyền thúng đóng phim… vẫn còn vẹn nguyên trong trí nhớ. Anh ấy là mối tình đầu và cũng là mối tình cuối cùng trong cuộc đời tôi.

NSND Trà Giang năm nay tròn 70 tuổi. Bà đã tin cậy và sẻ chia những chuyện buồn vui trong cuộc đời mình, như là cách tri ân cuộc đời đã cho bà đi qua nhiều cuộc đời để thấy mình vẫn hạnh phúc nhiều hơn những o Thảo và nhiều o khác của nơi Vĩ tuyến 17 ngày và đêm giao tranh ác liệt.

Bà luôn biết ơn đến hai người quan trọng tạo nên thành công nghiệp diễn của mình là Giáo sư violon Bích Ngọc, chồng bà, và nghệ sĩ piano Bích Trà, cô con gái rượu duy nhất.

Khi những trang báo này đến tay bạn đọc thì NSND Trà Giang đã sang nước Anh với con gái. Đây sẽ là chuyến đi dài và con gái sẽ được bà dành cho nhiều tình yêu thương hơn, vì bà đã làm tròn bổn phận đạo làm con, tận tụy hết lòng với ba mẹ những năm tháng cuối đời. Tôi luôn tin là họ sẽ rất vui và hạnh phúc!

Trần Thanh Hạnh (thực hiện)

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.