Những người viết Hiến pháp nước Mỹ sẽ nói gì về việc áp đặt thuế lên người không mua bảo hiểm y tế là một hình thức lạm dụng của chính quyền Quốc hội dưới một hiệp ước thương mại? Là bởi Tổng thống James Madison - cha đẻ của Hiến pháp Mỹ đã không biết "bảo hiểm y tế" là gì và bác sĩ thời đó vẫn còn dùng đỉa hút máu. Còn Thomas Jefferson, vị tổng thống đã từng sở hữu rất nhiều nô lệ sẽ tưởng tượng thế nào về vị Tổng thống thứ 44 của Mỹ là người da màu được sinh ra tại Hawaii - một bang mà hồi đó chưa hề tồn tại? Một lần nữa, câu hỏi rất khó trả lời.
Từ Libya ngược về những cuộc chiến trước
Ngày 20/5/2011 đánh dấu ngày thứ 60, Tổng thống Obama phát động hành động quân sự ở Libya. Phát ngôn viên của Hạ viện là John Boehner khẳng định rằng, Tổng thống đã vi phạm Nghị quyết Quyền lực chiến tranh thông qua năm 1973, trong đó yêu cầu Tổng thống rút lực lượng quân Mỹ khỏi các hành động thù địch có vũ trang, nếu như Quốc hội không thông qua trong vòng 60 ngày.
Trong khi đó, chính quyền lập luận rằng, những gì mà Mỹ làm ở Libya không phải là những hành động thù địch, nên nghị quyết không áp dụng trong trường hợp này. Sự thật là không một vị tổng thống nào lại muốn quyền lực quân sự của mình bị hạn chế. Tất cả các tổng thống Mỹ, bất kể thuộc đảng nào, đều có xu hướng bành trướng quyền hành pháp. Và hầu hết các ứng cử viên tổng thống, bao gồm cả Obama khi còn là Thượng nghị sĩ năm 2007 từng chỉ trích vị Tổng thống đương nhiệm về hành vi lạm quyền rằng: "Theo Hiến pháp, tổng thống không có quyền đơn phương cho phép một cuộc tấn công quân sự trong tình huống không liên quan tới mục đích ngăn chặn một mối đe dọa hiện hữu tới một quốc gia".
Từ khi Hiến pháp Mỹ được ký năm 1787, Quốc hội tuyên bố chiến tranh 5 lần: chiến tranh năm 1812, chiến tranh Mexico, chiến tranh Tây Ban Nha - Mỹ và chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai. Và từ năm 1787, các tổng thống đã điều động lực lượng quân Mỹ hàng trăm lần mà không được sự cho phép của Quốc hội. Đỉnh điểm của những căng thẳng ấy là chiến tranh Triều Tiên, khi mà Tổng thống Truman đã gửi 1,8 triệu lính, hải quân và không quân tham chiến trong vòng 3 năm, khiến 36.000 người đã thiệt mạng - song chưa bao giờ có được sự chấp thuận tuyên bố chiến tranh từ Quốc hội. Quốc hội chưa từng tuyên bố chiến tranh từ sau Thế chiến II, dù hàng tá xung đột đã diễn ra.
Nghị quyết Quyền lực chiến tranh có mục đích ngăn chặn những hành động của Tổng thống Nixon và Johnson trước đó, đã tiến hành ở Việt Nam. Quốc hội cảm thấy như bị thao túng và bị lừa dối, và muốn khẳng định quyền lực của mình với tư cách là một tổ chức có quyền tuyên bố chiến tranh. Tuy nhiên, luật pháp lại không hoàn toàn khẳng định đặc quyền đó của Quốc hội. Luật yêu cầu một lá thư cho phép của Quốc hội để tuyên bố chiến tranh, và cho tổng thống một thời hạn 3 tháng. Kể từ năm 1973, các vị tổng thống có đủ điều kiện để vờ hậu thuẫn nghị quyết này. Tổng thống của cả hai đảng đều đã sử dụng lực lượng quân sự mà không có sự cho phép của Quốc hội. Ví dụ, ở Lybia năm 1986, ở Panama năm 1989, ở Somalia năm 1992, ở Bosnia năm 1995, và ở Kosovo năm 1999...
Có vẻ trong trường hợp của Libya, Obama không tôn trọng tinh thần của Nghị quyết Quyền lực chiến tranh. Ông đã không xin phép, mặc dù đã có thể có được sự hậu thuẫn của Quốc hội hồi tháng 3. Câu hỏi ở đây là, liệu người Mỹ có thực sự muốn để Quốc hội có quyền duy nhất được điều động lực lượng quân đội Mỹ? Luật pháp cho phép tổng thống được hành động đơn phương, ít nhất là trong khoảng thời gian 60 đến 90 ngày đầu. Song Quốc hội lại cố gắng thỏa mãn cả hai: vừa khẳng định quyền lực của mình, mặt khác lại không chắc liệu có thực sự muốn chấm dứt hành động quân sự ở Libya hay không. Nếu thực sự các nhà làm luật muốn điều đó, thì Quốc hội đã có một quyền lực rõ ràng có thể chấm dứt hoạt động quân sự một cách lập tức: đó là chấm dứt cung cấp tài chính cho những hoạt động quân sự này.
Đây là một phần trong trò chơi mèo đuổi chuột của nguyên tắc phối kiểm và cân bằng trong Hiến pháp Mỹ. Nghị quyết Quyền lực chiến tranh là một sự phối kiểm đối với quyền lực của tổng thống, song tổng thống lại "cân bằng" bằng cách lờ nó đi. Điều đó không được coi là trái Hiến pháp, mà đó là cách mà hệ thống của Hiến pháp Mỹ hoạt động. Một câu hỏi lớn hơn đó là: Liệu Nghị quyết Quyền lực chiến tranh có đúng với Hiến pháp không? Và Hiến pháp lại xung đột với chính bản thân nó trong vấn đề này: Điều khoản về Tổng chỉ huy và điều khoản về Quốc hội tuyên bố chiến tranh. Chưa kể còn rất nhiều khoảng trắng giữa hai sự khẳng định quyền lực đó.
Liên tiếp tăng mức trần nợ công
Không ai phủ nhận được quyền đánh thuế của Quốc hội. Đó là một trong những quyền đầu tiên được liệt kê trong Hiến pháp. Những nhà làm luật tạo ra một chính quyền trung tâm một phần để có khả năng thanh toán toàn bộ số nợ từ cuộc chiến giành độc lập. Quốc gia đã phá sản tại thời điểm đó, bạn có thể không thích thú gì mấy với quyền được đánh thuế, song đó là một trong những giáo lý căn bản nhất của chính quyền. Những đảng không cầm quyền luôn luôn phản đối việc tăng mức trần nợ công này, và đảng cầm quyền thì luôn ở chiến tuyến ngược lại.
Khi cựu Tổng thống Bush cần tăng mức trần vào năm 2006, Thượng nghị sĩ Obama và Joe Biden bỏ phiếu chống lại chính sách này. Obama nói rằng, việc tăng mức trần là dấu hiệu của sự thất bại trong lãnh đạo. Ngay từ năm 1962, Quốc hội đã ban hành 75 biện pháp khác nhau để thay thế mức trần này, bao gồm 17 lần dưới thời của Tổng thống Ronald Reagan, 6 lần dưới thời Jimmy Carter và 4 lần dưới thời Bill Clinton. Quốc hội cũng đã tăng giới hạn 10 lần từ năm 2001. Đồng thời, việc nợ công vượt quá GDP không có gì là trái hiến pháp. Dĩ nhiên điều đó không phải là khôn ngoan, giống như trường hợp của Hy Lạp.
Và cũng không có gì trái Hiến pháp khi Quốc hội cố cắt giảm ngân sách liên bang để giảm mức nợ hoặc thỏa thuận cắt giảm nhằm thông qua việc tăng mức trần vay nợ. Song nếu Quốc hội kiên quyết với ý định cho phép nước Mỹ vỡ nợ, tổng thống có thể tuyên bố điều đó là trái Hiến pháp và có những biện pháp bất thường nhằm tránh việc đó xảy ra. Tổng thống có thể bán các tài sản cố định, cho công nhân nghỉ việc, đóng băng các khoản séc, cho thuê Công viên Yellowstone...
Cải cách y tế là trái hiến pháp?
Dư luận chỉ trích rằng Luật Cải cách y tế của Obama là sự lạm quyền chưa từng có và điều đó trái với Hiến pháp. Luật này quy định những người không mua bảo hiểm y tế phải nộp phạt. Dư luận phản ứng rằng Chính phủ không thể buộc người dân làm gì, mua gì chỉ đơn giản bởi vì họ là công dân Mỹ. Thẩm phán Roger Vinson của Florida lập luận rằng: "Chưa bao giờ Quốc hội yêu cầu người dân mua một sản phẩm từ một công ty tư nhân (sản phẩm cần thiết đối với cuộc sống) chỉ để sống và định cư ở Mỹ cả".
Song điều đó có thể lắm chứ. Chính phủ yêu cầu người dân phải trả thuế, mua bảo hiểm xe hơi (nếu chúng ta muốn lái xe một cách hợp pháp). George Washington đã ký một dự luật yêu cầu người Mỹ mua súng đạn. Trên thực tế, không có điều nào trong Hiến pháp hạn chế Chính phủ yêu cầu người dân làm gì, mua gì hoặc trả thuế - thậm chí cho dù người dân không thích thú gì việc đó. Không ai tranh cãi về quyền được điều tiết thương mại liên bang của Quốc hội, và thật ngớ ngẩn khi lập luận rằng, việc chăm sóc sức khỏe - chiếm 17% nền kinh tế Mỹ - lại không được tính là những hoạt động thương mại liên bang. Những người phe bảo thủ lập luận rằng, lệnh ban hành trong dự thảo luật là trái với Hiến pháp và rằng chính phủ không thể điều chỉnh thứ người dân không làm.
Những người ủng hộ kế hoạch cải cách y tế của Obama thì cho rằng, đó không phải là một lệnh mà nó là một loại thuế, áp dụng đối với những người không mua bảo hiểm. Giả sử khi một người phụ nữ trẻ, khỏe mạnh và không được bảo hiểm đi trượt tuyết bị đứt dây chằng trước và phải làm phẫu thuật khẩn cấp? Cô ấy không thể trả toàn bộ khoản phí đó và việc đó có thể để lại hậu quả cho cộng đồng.
Tuy nhiên, bản phê bình luật của Trường đại học Pennsylvania viết: "Bắt người trẻ, khỏe trả hàng tỉ USD cho phí bảo hiểm là cách duy nhất để tài trợ tài chính cho các hoạt động chung mà không phải nâng đáng kể mức thuế. Chương trình cải cách y tế này có thể là một pháp chế tồi, nhưng không có nghĩa là nó trái với Hiến pháp. Không có luật nào chống lại các luật tồi tệ. Phương thức "chữa trị" các đạo luật tồi tệ đó là bầu cử”.
Rắc rối về nhập cư
Trên thế giới này, có 3 cách cơ bản để có được quyền công dân. Nếu bạn sinh ra trong biên giới của một nước, bạn nghiễm nhiên là công dân của nước đó. Nếu cha mẹ bạn là công dân của một nước, thì bạn cũng là công dân của nước đó, bất kể bạn sinh ra ở đâu. Và cách thứ 3 đó là: nhập cư, quá trình biến một "phi công dân" trở thành một công dân. Nước Mỹ là một trong những nước cuối cùng theo nguyên tắc về nơi sinh.
Luật bổ sung lần thứ 14, được phê chuẩn vào năm 1868, quy định rằng, nếu bạn được sinh ra ở trong lãnh thổ của nước Mỹ thì bạn là công dân Mỹ. Không một quốc gia châu Âu nào thực hiện như vậy. Cả Trung Quốc và Nhật Bản cũng vậy. Nước Mỹ cũng làm theo cách thứ hai: khi cha mẹ của đứa trẻ là công dân Mỹ thì đứa trẻ cũng được công nhận là công dân Mỹ dù được sinh ra ở nước ngoài, song trường hợp này không đơn giản. Ví dụ, đứa con ngoài giá thú của một bà mẹ nhập cư bất hợp pháp thất nghiệp ở Texas được công nhận là công dân Mỹ, trong khi đó, một đứa trẻ sinh ra bởi bà mẹ người Mỹ và một người cha làm việc cho IBM ở Paris, nước Pháp thì phải đăng ký chứng nhận công dân và trải qua hàng tháng thậm chí hàng năm giấy tờ thủ tục để có bằng chứng là đứa trẻ đó đủ tư cách có được quyền công dân Mỹ.
Luật bổ sung lần thứ 14, bổ sung Tái thiết sau nội chiến - quy định rõ rằng, bất cứ ai được sinh ra trên đất Mỹ đều là công dân Mỹ. Việc này được thông qua vì một lý do: để các nô lệ cũ thực sự trở thành công dân và có quyền công dân, bao gồm cả bầu cử. Sự bổ sung này là một phản ứng đối với quyết định Dred Scott năm 1857, khẳng định rằng, những người Mỹ gốc Phi là hạ đẳng và không có quyền được tôn trọng bởi người da trắng. Theo đó những người Mỹ gốc Phi sẽ không bao giờ trở thành công dân Mỹ và được bảo vệ bởi Hiến pháp. Luật bổ sung lần thứ 14 đã đảo ngược quyết định này.
Khi dự thảo bổ sung, Quốc hội rõ ràng đã không lường trước việc nhập cư bất hợp pháp. Tuy nhiên, việc thay đổi luật về quyền công dân cũng sẽ không chấm dứt việc nhập cư hay làm giảm nhịp độ của nó. Nước Mỹ cần có chiến lược cây gậy và củ cà rốt đối với những người nhập cư bất hợp pháp. Nhiều cấp quản lý doanh nghiệp và những người tiến bộ đồng ý rằng Mỹ cần khiến cho việc nhập cư hợp pháp dễ dàng hơn, để giới trẻ đang học tại các trường đại học hoặc tham gia quân đội những địa vị hợp pháp và cấp thẻ xanh cho bất cứ người nước ngoài nào có được bằng kỹ sư. Đó là củ cà rốt. Đồng thời nước Mỹ cũng cần thi hành một môi trường làm việc tốt hơn, một tiêu chuẩn hợp lý hơn cho lực lượng cảnh sát đảm bảo vùng biên giới an ninh hơn cho mục tiêu giảm nhập cư bất hợp pháp.
Vậy nước Mỹ có đang trong cuộc khủng hoảng về hiến pháp không? Câu trả lời là không. Nó chỉ xung đột với chính nó trong hoàn cảnh đương thời và người dân Mỹ sẽ còn tiếp tục tranh cãi về hiến pháp ngày một thêm gay gắt