Trong những ngày đầu của tháng 6, Trường ĐH Văn hóa Hà Nội và một số nhà văn, nhà thơ đã tổ chức cuộc hội thảo mang tên: "Văn học Việt Nam - Hoa Kỳ sau chiến tranh", và khách mời là những nhà văn, nhà thơ, giáo sư Hoa Kỳ là những cựu chiến binh từng tham chiến tại Việt Nam. Trong đó có nhà thơ Kevin Bowen; nhà thơ, Giáo sư Bruce Weigl; nhà thơ, Giáo sư văn chương (người Mỹ gốc Việt) Nguyễn Bá Chung, nhà thơ Martha Collins, nhà văn Sam Hamill, nhà thơ John Dean và nhà nghiên cứu văn hóa George Kovach - Tổng Biên tập Tạp chí Consequence, chuyên nghiên cứu về hậu quả chiến tranh.
Thực ra những vị khách này đã đến với Việt Nam nhiều lần, nhưng đây là lần đầu tiên họ cùng nhau dự một cuộc hội thảo lớn về văn học tại Việt Nam. Lần này họ sang Việt Nam với một lịch trình dày đặc, nói như nhà thơ Bruce Weigl: không có thời gian để thở. Tôi nghĩ cần thiết phải giới thiệu kỹ lưỡng về hai cựu binh đặc biệt này với độc giả. Tôi gọi họ là đặc biệt bởi họ có một tình yêu nhẫn nại đến kỳ lạ với Việt Nam. Nhà thơ Kevin Bowen có lẽ là một trong số ít ỏi các nghệ sỹ Hoa Kỳ trở về Việt Nam từ những năm 80 của thế kỷ trước.
Các nhà thơ Việt Nam vẫn nhớ rất rõ về một người Mỹ với mái tóc bạch kim, khuôn mặt hiền từ một mình vượt đại dương tới đất nước rực rỡ ánh nắng của miền nhiệt đới này. Hồi ấy việc đi lại giữa hai nước còn rất khó khăn, phải kiên trì và mạo hiểm lắm ông mới đặt chân đến nơi mà trước đây ông hiện diện như những kẻ xâm lược.
Ông kể rằng, cái cảm giác trở về Việt Nam sau chiến tranh ấy đã cho ông rất nhiều cung bậc của cảm xúc. Ông sợ người Việt sẽ ném trứng thối vào một người Mỹ như ông, thế nhưng ông đã hoàn toàn bất ngờ với sự tiếp đón thân thiện của những nhà thơ, nhà văn và con người Việt Nam.
Có câu chuyện rằng, vào lần đầu tiên ông đến Việt Nam, ông mang theo 15.000 USD để tổ chức hội thảo, số tiền ấy là sự quyên góp của một số cựu binh Mỹ. Một buổi sáng, ông được các nhà thơ Việt Nam mời đi ăn phở tại phố Hàng Hành, không hiểu sơ suất thế nào ông đã bỏ quên cái túi đựng số tiền ấy. Khi về đến khách sạn, mọi người hết sức lo lắng vì phát hiện cái túi và số tiền không còn nữa. Thời ấy 15.000 USD là số tiền quá lớn, ngoài sức tưởng tượng của người Việt Nam nên việc để quên nó là một thảm họa! Khốn đốn hơn nữa là hội thảo sẽ khó được tổ chức nếu không có số tiền ấy…
Hai ngày nặng nề trôi qua, các nhà văn phía Việt Nam đang tá hỏa để nghĩ cách khắc phục, thật sự thì hết sức tuyệt vọng vì số tiền lớn quá. Nhưng thật bất ngờ, ngay đêm hôm đó, một người đàn ông đã gọi điện đến khách sạn và nói rằng ông ấy đang giữ chiếc cặp, yêu cầu đến nhận lại. Người đàn ông lạ không ai khác chính là chủ quán phở trên phố Hàng Hành. Mọi người mừng rỡ đến nơi, cả Kevin cũng có mặt và chiếc cặp được hoàn trả với đầy đủ 15.000USD. Lần ấy là ấn tượng không bao giờ quên với nhà thơ Kevin. Và ông đã hỏi một nhà thơ rằng, tại sao họ trả lại số tiền ấy. Nhà thơ Việt Nam đã trả lời: Vì họ biết đấy là của một người Mỹ.
Sau lần đầu tiên đầy ấn tượng ấy, nhà thơ Kevin Bowen vẫn đều đặn trở về Việt Nam, hoặc ông trở thành người giúp đỡ, tiếp đón những nhà văn Việt Nam qua Mỹ. Lần này, ông trở lại vẫn mái tóc bạch kim, khuôn mặt hiền từ và dáng người cao lớn. Ông cảm thấy quá quen thuộc với đất nước và con người ở đây.
Khi chúng tôi đưa ông lên chùa Thầy gặp gỡ sư trụ trì Thích Thành Xuân, ông đã hỏi nhà sư: Người Việt nghĩ thế nào về thiên đường và địa ngục? Nhà sư đã trả lời rằng, người Việt không quan tâm tới thiên đường, hay địa ngục, điều làm họ quan tâm nhất vẫn là cuộc sống hiện tại. Vì cuộc sống hiện tại mới làm nên nhân quả của một kiếp người, còn thiên đường hay địa ngục chỉ từ sự sợ hãi của con người mà ra. Khi người phiên dịch vừa kết thúc câu trả lời của sư Xuân, nhà thơ vốn trầm tính Kevin đã ồ lên thích thú. Ông quá bất ngờ với quan niệm rất giản dị của người Việt.
Ông nói rằng, người phương Tây luôn nghĩ về địa ngục hay thiên đường, vì vậy họ luôn sống trong lo lắng và sợ hãi. Và lần này ông hiểu tại sao người Việt lại sống một cách bình lặng, và không bao giờ sợ hãi, ngay cả với chiến tranh - người Việt không bao giờ sợ hãi!
Nghe sư trụ trì Thích Thành Xuân (chùa Thầy) nói về Phật giáo Việt Nam.
Một người nữa cần phải nhắc tới đó là Giáo sư, nhà thơ Bruce Weigl. Đây là một nhà thơ danh tiếng ở Hoa Kỳ, ông rất vui tính, luôn cười với hai chiếc răng cửa bàn cuốc rất ấn tượng. Ông kể rằng những năm còn là lính trên chiến trường Việt Nam, ông luôn bị ám ảnh bởi những đôi mắt đen láy và khuôn mặt nhem nhuốc của những đứa trẻ Việt Nam.
Sau này, khi nhận ra bộ mặt thật của cuộc chiến, ông đã trở thành một trong những người phản chiến nhiệt tình nhất. Rồi ông trở lại Việt Nam với ý định sẽ làm một cái gì đó cho đất nước này. Ông đã tìm ra một bé gái và quyết định nhận làm con nuôi. Khi đến trung tâm mồ côi nhận cháu bé, ông đã nói rằng, các vị hãy yên tâm, hôm nay tôi tới đây nhận một cháu bé Việt Nam và 20 năm nữa sẽ trả lại các vị một cô gái Việt Nam. Ông đã giữ lời hứa, Hạnh - cô bé con nuôi của ông bây giờ đã là một cử nhân sinh học, nhưng không hề bị Mỹ hóa, Hạnh cũng nhiều lần trở về quê hương với nguyên vẹn tâm hồn của người Việt.
Khi lên thăm Phủ Thành Chương, Bruce Weigl rất ấn tượng với công trình này. Ông đã thổ lộ rằng, đây là tinh thần Việt Nam, gần gũi, giản dị và thân thiện. Và khi ngang qua khu nhà tranh vách đất của họa sỹ Thành Chương, ông đã dừng lại rất lâu, khuôn mặt luôn vui tính của ông trầm xuống, đôi mắt ngấn lệ.
Ông đã kể với chúng tôi về những năm tháng chiến tranh, về những căn nhà tranh vách đất thời ấy, chỉ có điều khi ấy chúng bị đốt trụi bằng chiếc bật lửa Zipo. Ông bần thần sờ nắn bức tường đất, vuốt vuốt mái rạ rồi nhìn họa sỹ Thành Chương một cách xúc động. Và ông càng bất ngờ hơn khi biết họa sỹ Thành Chương cũng từng là lính, tham gia chiến trường gần 10 năm. Ông nắm tay Thành Chương và nói rằng, khi là lính ngoài mặt trận, tôi chưa lần nào tận mắt nhìn thấy lính Bắc Việt, tôi chỉ nhìn thấy những căn nhà đất như thế này. Bây giờ tôi mới hiểu người lính Việt Nam, tôi rất khâm phục và yêu mến tài năng của ông.
Trong chuyến giao lưu này, người vất vả nhất có lẽ là nhà thơ, Giáo sư văn học Nguyễn Bá Chung, ông là người gốc Việt vì thế kiêm luôn việc phiên dịch. Những thuật ngữ phức tạp chỉ có ông mới dịch nổi. Vì vậy ông là người bận rộn nhất, các thành viên trong đoàn luôn miệng hỏi. Ngay như khi nhà thơ Fred Marchant hỏi sư trụ trì Thích Thành Xuân rằng, một người Mỹ như ông có thể luyện tập Thiền định được không? Và làm thế nào để đến với Phật giáo một cách dễ dàng nhất? Sư Xuân đã giải thích rằng, tất cả mọi người đều có thể đến với Phật giáo, điều đầu tiên và đơn giản nhất phải phát khởi được trong lòng một niềm tin - niềm tin vào đức Phật - luật nhân quả… và từ đó sẽ có cách để luyện tập bước vào thế giới của Phật giáo. Những thuật ngữ mang tính chuyên sâu lại phức tạp như vậy trong đoàn chỉ có Giáo sư Nguyễn Bá Chung mới đủ ngôn ngữ để dịch lại. Ông luôn nói một cách say sưa, nhìn ông giải thích cho các nhà văn Mỹ, chúng tôi cảm thấy ông là một người hoàn toàn Việt Nam - người chưa bao giờ sống hơn 40 năm ở nước Mỹ.
Ông kể rằng, ông sinh ra ở Hải Dương, khi lên 6 tuổi mới di cư vào Nam, và sang Mỹ năm 25 tuổi, vì thế tất cả những ấn tượng về miền quê Bắc Bộ đều nguyên vẹn trong ông cho tới tận bây giờ. Ông hoàn toàn bất ngờ khi biết trụ trì chùa Thầy Thích Thành Xuân còn làm thơ và có sự giao du rất thân thiết với các nghệ sỹ Việt Nam. Cái ấn tượng về một nhà sư sống cách biệt với nhân gian hoàn toàn biến mất, ông nói rằng, đã nhiều lần dẫn các bạn Mỹ trở về Việt Nam, nhưng đây là lần đầu tiên ông được tiếp xúc với nhà sư, nghe thuyết pháp, đặc biệt lại được nghe nhà sư đọc thơ. Ông quả quyết rằng, đây là một đề tài thú vị và chính ông sẽ đem vào bài giảng của mình cho những sinh viên Mỹ.
Trong chuyến về Việt Nam lần này có một nhà thơ nữ là Martha Collins. Bà cũng là người duy nhất không phải cựu binh Mỹ tham gia chiến trường Việt Nam, nhưng bà yêu mến con người và đất nước này từ những năm tháng còn là một sinh viên phản chiến tại Mỹ. Bà ấn tượng với Việt Nam vì lòng vị tha.
Lòng vị tha đối với Martha Collins được lý giải sâu sắc rằng, tại sao người Việt Nam có thể tha thứ cho người Mỹ một cách bình thản như vậy. Bà đã hỏi chúng tôi câu đó, một nhà thơ đã giải thích rằng, người Việt Nam không bao giờ sống trong hận thù, họ luôn tìm cách quên đi quá khứ để sống trong hiện tại và hướng tới tương lai, đặc biệt họ rất yêu thơ, vì thế họ sẽ sẵn sàng đón tiếp bà…
Và tỉ mẩn nghiên cứu kiến trúc của chùa Thầy.
Trong lúc tham quan Phủ Thành Chương, bà hết sức ngỡ ngàng trước một bức tượng anh bộ đội Trường Sơn nhỏ xíu trên hòn non bộ. Bà đã dừng lại và ngắm nghía rất lâu. Thấy vậy, Thành Chương liền giải thích rằng, đây chính là hình ảnh của Thành Chương khi đang là người lính. Trong chiến tranh, họa sỹ Thành Chương đã một lần bị lạc đơn vị, và một mình anh lang thang gần tháng trời trong rừng núi Trường Sơn tìm đơn vị. Để lưu giữ kỉ niệm ấy, họa sỹ Thành Chương đã mua một bức tượng nhỏ mô tả một người lính Việt Nam lưng đeo ba lô, vai khoác súng AK47, chống gậy bước vội vã… Chúng tôi không biết Martha Collins nghĩ gì nhưng khi nghe câu chuyện này, bà đã giở sổ ra ghi chép hết sức cẩn thận và đưa máy ảnh cho một người trong đoàn chụp bà với bức tượng nhỏ xíu ấy.
Lát sau bà nói trong xúc động: Tôi thấy rằng đó là cách mà người Việt Nam nhớ về quá khứ, một cách nghĩ giản dị, đáng yêu rất đặc biệt của người Việt Nam, bức tượng này đã phần nào lý giải cho tôi về cách sống của người Việt Nam. Không phải một tượng đài hoành tráng, không phải những bức ảnh tàn khốc và cái chết của chiến tranh… đây là một hình ảnh đẹp, và có thể làm thơ về nó…
Nghe họa sỹ Thành Chương nói về bức tượng “Bộ đội Trường Sơn” trong Việt Phủ.
Trong đoàn có nhà nghiên cứu văn hóa George Kovach, và đây là lần đầu tiên ông trở về Việt Nam sau chiến tranh. Ông trầm tính, ít nói và luôn tỉ mẩn xem xét từng chi tiết nhỏ nhất khi đi tham quan. Ông đặc biệt ấn tượng với những ngôi nhà cổ được Thành Chương phục chế. Ông đã ngỡ ngàng nói rằng, trước khi lên đây ông đã từng nghe bạn bè nói về nơi này và ông nghĩ rằng đây là một bảo tàng cá nhân của một họa sỹ, nhưng ông đã lầm, đây không bị bảo tàng hóa bất cứ cái gì, tất cả vẫn nguyên hơi thở của văn hóa, của ký ức nhưng con người hoàn toàn xúc chạm (chữ dùng của George Kovach) với đồ vật, thậm chí sống trong đó, sử dụng nó… Chính điều này làm nên sự đặc biệt của văn hóa Việt. Và ông gần như bị "thôi miên" khi họa sỹ Thành Chương giới thiệu những bức tranh sơn mài khổ lớn. Cái vẻ ít nói của ông biến mất, ông hỏi rất nhiều về tranh sơn mài và luôn miệng: "Beautiful!" (Đẹp quá!).
Và khi lên chùa Thầy, ông đã lặng người ngắm ngôi chùa với những cột gỗ hàng trăm năm, chúng tôi đã thấy ông áp má vào cột gỗ, hình như ông muốn lắng nghe điều gì đó từ một cột gỗ xa xưa. Ông quả quyết rằng, ngôi chùa này là biểu tượng của văn hóa Việt Nam, nó không hoành tráng, cao vút như nhà thờ phương Tây, vì thế không tách biệt mà rất gần gũi, rất ấm cúng và khi lắng nghe như vậy ông cảm thấy hơi thở của con người - nó là một con người! Ông cho rằng, tạp chí Consequence của ông sẽ thiếu đi một phần nếu không viết về một nơi như thế.
Riêng với nhà thơ Fred Marchant, ông gần như nhảy cẫng lên khi nhìn thấy những chú Tễu của nghệ sỹ Chu Lượng. Với người phương Tây, rối nước là một sự kỳ lạ của nghệ thuật biểu diễn Việt Nam. Bản thân Fred mỗi lần đến Việt Nam đều đến xem rối nước, nhưng lần này ông được tận tay sờ nắn một chú Tễu, một con trâu, một con cá và mục kích hậu trường của thủy đình rối nước. Ông vui đến nỗi khi mọi người chụp ảnh những con rối, ông đã quỳ xuống cạnh hàng rối và kêu lên: "Tôi là một con rối" và cười sảng khoái. Thân hình béo tốt, quá khổ của Fred rung lên và rất giống với một chú Tễu luôn cười. Tất cả thành viên trong đoàn đã được một tràng cười thỏa thích trước hành động rất ngộ của Fred.
Trong chuyến thăm chùa Thầy, cả đoàn được sư trụ trì Thích Thành Xuân mời một bữa cơm chay. Đây có lẽ là bữa ăn không bao giờ quên đối với họ. Bữa ăn trở thành một nghi lễ bởi các nhà thơ, nhà văn, giáo sư Mỹ cứ ngắm nghía món ăn như đồ trang sức. Họ không thể hiểu nổi với những thực phẩm đơn giản mà các nhà sư có thể biến thành hương vị ngọt ngào như vậy.
Nhà thơ John Dean, một người gốc Ireland đã hết sức xúc động với món rễ nấm trên bàn ăn. Ông cứ nhìn mãi, rồi chậm rãi nhấm nháp hương vị đặc biệt của món này. Rồi ông kiên quyết dùng đũa để gắp dù rất vất vả, theo ông món ăn này nếu không dùng đũa gắp sẽ đánh mất hương vị của nó. Và ông hết sức thán phục khi nhà sư Thích Thành Xuân kể rằng, ông đã từng tốt nhiệp hai trường đại học danh tiếng ở Việt Nam (ĐH Sư phạm Hà Nội, ĐH Sân khấu Điện ảnh Hà Nội), vì ông cứ nghĩ rằng các thiền sư Phật giáo chỉ chuyên tâm học về Phật pháp.
Ông hỏi sư Xuân rất nhiều chuyện, vì trong sự hình dung của ông, các nhà sư luôn bí ẩn, sống khép mình và chẳng bao giờ quan tâm đến xã hội hiện đại. Sư Xuân đã giải thích rằng, các vị đừng bao giờ nhìn nhà sư với ánh hào quang của sự tưởng tượng, hãy nhìn tôi với một con mắt bình thường sẽ thấy sự linh thiêng của Phật giáo, sự gần gũi của văn hóa Việt Nam… John Dean đã hết sức ngỡ ngàng trước cách trò chuyện thân mật của sư Xuân. Ông nói rằng, đây chính là con đường trở về đích thực của con người.
Sẽ còn nhiều chuyện để kể, nhưng tựu trung, chuyến trở về Việt Nam lần này đã để lại ấn tượng rất tốt với những cựu binh Mỹ. Nhà thơ Kevin Bowen rất xúc động khi chia tay sư trụ trì Thích Thành Xuân, ông đã nói: "…Sau lần này chúng tôi đã hiểu thêm rất nhiều về đất nước, con người Việt Nam, đặc biệt được hiểu thêm về Phật giáo và chúng tôi tin rằng chúng tôi sẽ sống tốt hơn sau lần gặp gỡ này, và đây chính là lần trở về với chính bản thân của chúng tôi!".