1. Ngoài mảng tư liệu khá đồ sộ của Việt Nam được sưu tầm, tuyển chọn kỹ lưỡng trong suốt những năm qua, điểm nhấn của triển lãm lần này là giới thiệu đến người xem trong nước và quốc tế những bằng chứng thuyết phục chứng minh chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa của Việt Nam từ những nguồn tư liệu của Trung Quốc và phương Tây. Trong đó, đáng chú ý là gần 90 tấm bản đồ các loại, do Kỹ sư Trần Thắng, Việt kiều Mỹ trao tặng cho Viện Nghiên cứu và Phát triển kinh tế-xã hội Đà Nẵng, đơn vị thực hiện đề tài nghiên cứu “Font tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa - TP Đà Nẵng”. Đây là những tấm bản đồ có niên đại từ năm 1626 đến 1980, tuy chia thành 3 nhóm, nhưng đều có đặc điểm chung là Trung Quốc không có Hoàng Sa, Trường Sa và Hoàng Sa, Trường Sa nằm trên lãnh thổ Việt Nam.
Bình luận về giá trị lịch sử, pháp lý của gần 90 tấm bản đồ các loại này, đặc biệt là ba cuốn atlas (tập bản đồ chính thức) do các nhà nước Trung Quốc xuất bản bao gồm Atlas Trung Quốc địa đồ (xuất bản 1908, bằng tiếng Anh); Atlas Trung Hoa bưu chính địa đồ (xuất bản năm 1919) và Atlas Trung Hoa bưu chính dư đồ (xuất bản năm 1933), GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng giám định toàn bộ tư liệu về Hoàng Sa - Trường Sa cho rằng: Các Atlas này là sản phẩm của chương trình thiết lập bản đồ bưu chính do nhà Thanh đề ra vào năm 1906 và được chính phủ Trung Hoa dân quốc kế tục vào các năm sau đó. Các bản đồ được lập chi tiết ở từng tỉnh, thành của Trung Quốc. Nơi nào không thuộc lãnh thổ của Trung Quốc thì không được thể hiện trên các bản đồ trong Atlas. Vì thế, cương giới của cực Nam của Trung Quốc trong Atlas này luôn chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam, mà không hề nhắc đến Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.
Điều này chứng tỏ rằng, cho đến khi nhà Thanh phát hành các atlas này vào năm 1908 và sau này chính quyền Trung Hoa dân quốc tái bản các atlas này vào năm 1919 và 1933 thì hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vẫn nằm ngoài cái gọi là “chủ quyền lịch sử” phi lý của Trung Quốc.
Cũng theo GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, khi các nguồn bản đồ, tư liệu của Việt Nam, Trung Quốc và các nước phương Tây đặt cùng nhau dễ dàng có thể kiểm chứng và bổ sung cho nhau, làm tăng thêm độ chuẩn xác và giá trị của mỗi bản đồ, tư liệu, góp phần khẳng định một thực tế lịch sử khách quan là trong nhiều thế kỷ liên tục các nhà nước quân chủ Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa một cách thực sự, đầy đủ và không hề gặp phải sự phản đối hay tranh chấp của bất cứ một quốc gia nào. Quá trình thiết lập chủ quyền của nhà nước trên một lãnh thổ vô chủ, nhằm mở rộng lãnh thổ quốc gia như vậy là hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ của luật pháp quốc tế.
2. Điều khiến nhiều người xem cảm thấy tự hào, xúc động là trong số hơn 150 bản đồ, tư liệu được trưng bày tại triển lãm này, thì có tới hơn 2/3 trong số đó là do các cá nhân trong và ngoài nước sưu tập và hiến tặng. Tiêu biểu trong số này có thể kể đến Kỹ sư Trần Thắng, Việt kiều Mỹ với hơn 90 bản đồ các loại; TS Mai Hồng, nguyên Trưởng phòng Tư liệu của Viện Hán nôm Việt Nam với tấm bản đồ “Hoàng Triều trực tỉnh dư địa đồ” (xuất bản năm 1904, dưới triều nhà Thanh); những hiện vật được ngư dân mang từ Hoàng Sa - Trường Sa về giao cho TS khảo cổ học Trần Hồng Kiên. Điều này cho thấy, dù ở nơi đâu, những người con của Việt Nam vẫn luôn đau đáu hướng về Tổ quốc.
TS Trần Đức Anh Sơn, Viện phó Viện Nghiên cứu và Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng, đơn vị trực tiếp tiếp nhận hơn 150 bản đồ, tư liệu và hiện vật được các cá nhân là người Việt Nam trong và ngoài nước chia sẻ: Việc TS. Mai Hồng hiến tặng tấm bản đồ nhà Thanh không có Hoàng Sa - Trường Sa cho Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, dường như đã tạo nên một “làn sóng” sưu tập bản đồ, tư liệu chứng minh Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam đối với người dân trong và ngoài nước.
Bằng chứng là năm 2012, Viện Nghiên cứu và Phát triển KT-XH Đà Nẵng nhận được 90 tấm bản đồ các loại khác nhau do Kỹ sư Trần Thắng, một Việt kiều ở Mỹ trao tặng. Để có được những tấm bản đồ này, anh Thắng đã phải “móc hết hầu bao”, lân la khắp các ngõ ngách, nơi có các hiệu cầm đồ ở Mỹ, thậm chí có những bản đồ anh phải sang tận Anh và Ba Lan để mua, với nỗi sợ nếu không nhanh sẽ bị rơi vào tay người khác. Đặc biệt, sau anh Thắng, “làn sóng” sưu tập bản đồ đã lan rộng ra kiều bào Việt Nam ở nước ngoài như ở Mỹ, Anh và Ba Lan. Trong số 150 bản đồ, tư liệu hiện được lưu giữ tại Viện, có rất nhiều tư liệu được bà con Việt kiều ở Mỹ, Ba Lan cùng góp công, góp của để sưu tập gửi về.
Cũng theo TS Trần Đức Anh Sơn, hiện tại toàn bộ tư liệu về Hoàng Sa - Trường Sa đã được số hóa. Sau khi có thẩm định quốc gia, đơn vị sẽ kiến nghị đưa toàn bộ tư liệu này lên cổng thông tin của UBND TP Đà Nẵng để người dân trong nước và bạn bè quốc tế có thể tiếp cận với nguồn tư liệu quý giá này