Nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ (giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT), đã có nhiều vở diễn gắn bó với đề tài Hà Nội - mà trong đó "Tôi và chúng ta" đã tạo nên một ấn tượng lớn về nghệ thuật - Huy chương Vàng Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc 1985.
Vào dịp kỷ niệm 22 năm ngày mất của Lưu Quang Vũ vừa qua (1988-2010); tập Thơ tuyển của anh đã được Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội; một số tác phẩm sân khấu đã được dàn dựng lại và công diễn trên sân khấu Thủ đô, trong đó có vở "Cô gái đội mũ nồi xám" (đạo diễn, NSƯT Anh Tú dựng cho Đoàn kịch I Nhà hát Tuổi trẻ).
Chuyện kịch kể về Trâm - "Cô gái đội mũ nồi xám"- có cá tính, xinh đẹp. Cô và Nhật - một nghệ sĩ, kiến trúc sư - yêu nhau, nhưng gia đình Trâm không đồng ý. Tình yêu của họ đang tốt đẹp, nhưng sau một thời gian đi công tác về, Nhật đã thú nhận mình có quan hệ với Thủy. Không thể chịu nổi sự phản bội đó, Trâm quyết định bỏ Nhật... Vài năm sau, cô yêu một người đàn ông giàu có, không tài cán gì, nhưng lại sắp được đề bạt là Phó Viện trưởng - đó là Đáp. Nhưng rồi cuộc tình đó cũng không thành, Trâm quyết tâm lao vào công việc để nguôi ngoai những hụt hẫng trong tâm hồn mình và trở thành một Trưởng phòng trầm lặng, khép kín… có khi tưởng như đánh mất cả niềm tin vào chính mình.
Nhưng rồi, một lần nữa, tâm hồn "Cô gái đội mũ nồi xám" đầy cá tính đó lại xao động, khi Thành tình cờ gặp lại Trâm - và với tấm lòng trung thực, chân thành của mình - anh muốn đưa Trâm trở lại với thực tế của cuộc sống hiện tại và cả hướng tới tương lai tốt đẹp nữa…
Vở "Cô gái đội mũ nồi xám" (trước đây là của Đoàn Kịch Hà Nội - do đạo diễn, NSND Nguyễn Đình Nghi dàn dựng) ra đời khi cả đất nước ta đang nằm trong thời kỳ quan liêu bao cấp; với bao nhiêu khó khăn, bộn bề của cuộc sống thường nhật; với một thế hệ trẻ cũng có những băn khoăn, trăn trở trong những bước đi để tìm lấy một chỗ đứng trong xã hội cho mình.
Chính trong những năm 80 đầy vất vả đó, bằng cách nhìn và sự quan sát tinh tế, đầy nhân bản của một nghệ sĩ, Lưu Quang Vũ đã tìm đến với thế hệ trẻ - lắng nghe những nỗi niềm tâm sự, những khát vọng cháy bỏng và cả những hoài nghi của họ nữa - để viết nên khá nhiều tác phẩm về lớp thanh, thiếu niên trước ngưỡng cửa của thời kỳ đổi mới như "Vụ án 2000 ngày", "Bông cúc xanh trên đầm lầy", "Cô gái đội mũ nồi xám", "Lời thề thứ 9", "Nếu anh không đốt lửa", "Tôi và chúng ta", "Vách đá nóng bỏng"… đã để lại những dấu ấn về nghệ thuật cũng như cả nội dung tư tưởng. Nhưng điều thành công lớn nhất của Lưu Quang Vũ, chính là anh đã đưa ngôn ngữ của kịch nói đến với đông đảo công chúng, được công chúng đón nhận một cách nồng nhiệt - bởi anh đã nói giúp họ nhiều điều về chính bản thân họ, cũng như chính cuộc sống đang hết sức khó khăn mà mỗi một con người đều phải gồng mình lên mới vượt qua được - như ý một lời thoại trong kịch của anh - nếu anh không đốt lửa, nếu tôi không đốt lửa, nếu chúng ta không đốt lửa… thì cuộc sống này sẽ chẳng còn ý nghĩa gì nữa…
Thời gian như bóng câu đi qua cửa sổ… Lưu Quang Vũ đi xa đã tròn 22 năm. Nhớ lại gần cuối những năm 60 của thế kỷ trước, tôi và Lưu Quang Vũ đều còn trẻ, hai mươi hay ngoài hai mươi một ít. Vũ lành lành, ngầm ngầm, im im, cười cười, nhẹ nhẹ. Không muốn làm mất lòng ai. Cả nể, cái gì muốn từ chối cũng không từ chối ngay. Khi ngại ngại, khó nói thì xưng tên mình khẽ khẽ. Tôi thì ngược lại, guốc mộc, áo thổ, vòng bạc, không thích ai là dân tộc "Choang" ngay. Và vì thế, chúng tôi chơi với nhau, nhất là có thời gian dài cùng nhau làm Tạp chí Sân khấu, và sau này, tôi vẽ trang trí sân khấu một số vở của Lưu Quang Vũ.
Những ngày ấy, trước khi về Tạp chí Sân khấu (1976), Lưu Quang Vũ vẫn cứ lang thang. Thi thoảng, có công việc gì về vẽ, tôi kéo Vũ đi, bởi Vũ làm pa nô quảng cáo, làm mảng màu khá nhanh, trong người Vũ rất có máu hội họa. Ngoài ra, tôi và Vũ chơi với nhau như tư cách cùng làm thơ. Lúc đó, Lưu Quang Vũ đã in nửa tập "Hương cây" (cùng "Bếp lửa" của Bằng Việt). Vũ đã nổi tiếng thơ - Nhà thơ trẻ. Còn tôi, làm thơ chơi, cho mình và đọc cho bạn bè thân tình, không nghĩ đến in ấn và xuất bản.
Từ khi về Tạp chí Sân khấu, cái máu mê sân khấu từ trong tận cùng tâm hồn Lưu Quang Vũ lại trào dậy (có lẽ cả "gen" di truyền của thân phụ anh - nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Thuận nữa). Chính giai đoạn ngót chục năm này là vốn sống về công việc "bếp núc" sân khấu quý giá để Lưu Quang Vũ đã viết trên mấy chục vở kịch, chiếm lĩnh hầu hết sàn diễn sân khấu Việt Nam của những năm 80.
Cũng những năm tháng ấy, tôi chưa vợ con gì, còn được tự do giữa đám bạn bè đã ổn định gia đình. Có một buồng làm việc nho nhỏ ở khu Văn công Mai Dịch, hàng tuần, các nhà văn, nhà thơ Phùng Quán, Tạ Vũ, Trúc Cương, Ngọc Thụ, Nhật Tuấn, Trần Hoài Dương, Tường Vân, Chu Hoạch... vào chơi hẳn cả ngày từ sáng đến tối, vẽ và đọc thơ ầm lên. Lưu Quang Vũ cũng vậy, lúc buồn, lúc vui, lại túc tắc đạp xe vào với tôi, chiều tối lặng lẽ ra về.
Có một ngày mùa thu tháng 9/1980 ấy, Lưu Quang Vũ cũng lặng lẽ vào với tôi như thế. Tôi thoáng thấy Vũ đang có điều gì đó buồn buồn trong lòng mà không tiện nói ra. Gần chiều, Vũ với tay lấy cuộn giấy vẽ, bút vẽ và bột màu. Tôi thấy Vũ loay hoay một lúc, tưởng là Vũ vẽ chơi một cái gì đó. Hóa ra, lúc sau, Lưu Quang Vũ đưa tôi xem. Trên tờ giấy vẽ khổ lớn, Vũ dùng bút vẽ và bột màu, chép chữ rất to như khẩu hiệu, đề tặng tôi mấy câu thơ của anh lúc đó chưa được xuất bản: "Những vần thơ như móng tay day dứt/ Trên vỏ dưa xanh thắm của mùa hè/ Cho kẻ không nhà mái lá chở che/ Cho ngưng lại nhịp đồng hồ quên lãng/ Sợi dây mỏng nối liền ta với bạn/ Và ban mai trong mắt những con gà". Nửa tờ giấy còn lại, tôi vẽ chân dung Lưu Quang Vũ. Cho mãi đến sau này, Vũ mới kể cho tôi biết những day dứt của anh hôm đó, về thơ ca, tình yêu, cuộc đời và cả đời sống gia đình...
Tại Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc 1980, đợt 1 được tổ chức tại Hà Nội; Lưu Quang Vũ đã rất thành công với vở kịch nói đầu tay "Người cộng sản trẻ tuổi" (đồng tác giả với Đào Duy Kỳ), do đạo diễn Phạm Thị Thành dựng cho Nhà hát Tuổi trẻ. Đây chính là tấm giấy thông hành để anh bắt đầu đi vào con đường sáng tác kịch bản sân khấu, và từ đó đã trở thành một tác giả nổi tiếng…
Nhớ lại mùa đông năm 1982, đạo diễn Phạm Thị Thành mời tôi thiết kế mỹ thuật vở cải lương "Thủ phạm là ai" (Ngọc Thụ chuyển thể từ kịch nói của Lưu Quang Vũ), cho Đoàn Cải lương Thanh Hóa. Chị Thành đã vào làm việc với diễn viên từ mấy hôm trước, nên tôi và Lưu Quang Vũ hẹn nhau cùng đi tàu hỏa vào sau để dự lễ khởi công.
Vậy mà buổi tối ngày lên đường, tôi chờ Vũ ở cửa Ga Hàng Cỏ, cho đến lúc tàu sắp chuyển bánh, mới thấy anh hớt hải đạp xe đến và ủ ê thông báo là bận đột xuất nên không đi cùng được. Sợ nhỡ tàu, tôi bắt tay Vũ và chạy vội vào sân ga, cũng không kịp hỏi lý do "đột xuất" đó là gì nữa…
Hai năm sau, cho đến Hội diễn Sân khấu năm 1985, tôi lại thiết kế mỹ thuật vở "Vách đá nóng bỏng" của Lưu Quang Vũ cho Đoàn Dân ca Thuận Hải (Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay - Huy chương Bạc dành cho vở diễn, Huy chương Vàng thiết kế mỹ thuật; tại Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc 1985). Hai tháng trời, rất nhiều lần đi vào làm việc với đoàn cùng đạo diễn Vũ Minh và nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhưng chúng tôi không làm thế nào để rủ Vũ đi cùng được - vì lúc nào anh cũng kêu là lại bận "đột xuất"- khi mà ngày ngày, các đoàn kịch trong cả nước cứ đến tận nhà tìm anh để "đòi nợ" kịch bản.
Sau này (mùa đông 1987), trong bài thơ "Cảm tác nỗi niềm sân khấu" tặng Lưu Quang Vũ, tôi đã viết: "… Thời chúng mình là hai bàn tay trắng/ trăng trắng suông và mây trắng bay về/ đêm diễn tan rồi em rầu rầu xóm trắng/ sương trắng bay nhoè lá trắng ao quê/" - để nhớ lại một thuở buồn vui ngày ấy. Một năm sau, Lưu Quang Vũ bất ngờ đi xa mãi mãi…
Đã 25 mùa thu trôi qua, kể từ ngày vẽ "Vách đá nóng bỏng" của Lưu Quang Vũ. Tôi chợt nhớ một vài kỷ niệm xưa. Lưu Quang Vũ ơi. Tất cả rồi sẽ qua đi. Cả công và việc. Cả làm và ăn. Cả thọ và yểu. Cả danh và lợi hào nhoáng, hão huyền. Cả lòng tốt đẹp và điều đố kỵ có thể có của con người. Duy nhất, chỉ còn lại nghĩa bạn hữu và những gì là giá trị nghệ thuật đích thực giữa cuộc đời này là mãi mãi tươi xanh…