Loại bỏ 424 dự án khỏi quy hoạch Dựa trên các tiêu chí xem xét, đánh giá, kết quả rà soát quy hoạch trong Báo cáo của Chính phủ, hiện đã loại bỏ 424 dự án; không xem xét đưa vào quy hoạch 172 vị trí tiềm năng; tạm dừng có thời hạn 136 dự án (DA); tiếp tục rà soát, đánh giá 158 dự án. Như vậy, cả nước hiện còn lại 815 dự án, công trình thủy điện (TĐ) (Nlm =24.334 MW); đang vận hành 268 dự án (14.240MW), đang thi công xây dựng và dự kiến khai thác từ nay đến năm 2017 là 205 dự án (6.198MW). Theo Nghị quyết số 40/2012/QH13 ngày 23/11/2012, Quốc hội yêu cầu Bộ Công thương phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tiếp tục rà soát quy hoạch tổng thể về thủy điện để báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thứ 6, trong đó xác định rõ các dự án phải dừng, các dự án phải điều chỉnh, các dự án được tiếp tục triển khai; có biện pháp bảo đảm an toàn tuyệt đối các công trình thủy điện, trồng rừng thay thế. Báo cáo quy hoạch tổng thể về thủy điện trước Quốc hội, Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng điểm lại hàng loạt tồn tại. Đáng chú ý, công tác lập, thẩm định, phê duyệt phương án và thực hiện bồi thường, hỗ trợ, di dân, tái định cư tại một số dự án chưa thực hiện đầy đủ theo đúng quy định hoặc chưa thực sự hợp lý. Vì vậy, một số hộ dân không chịu nhận đất sản xuất (đất quá dốc, chất lượng thấp, diện tích chưa phù hợp với tập quán luân canh), không nhận nhà ở hoặc chuyển đi nơi khác (đất vườn quá nhỏ không đủ để trồng cây, chăn nuôi gia súc; bố trí hướng nhà, vị trí bếp nấu, kết cấu khu vệ sinh…chưa phù hợp với điều kiện khí hậu, tập quán sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số). Tại DATĐ Bản Vẽ, việc tái định cư người dân vùng núi cao xuống vùng thấp chưa thực sự phù hợp về mặt tập quán sản xuất; bố trí một số bản quá xa Trung tâm xã nên phải thành lập thêm 2 xã mới. Một số khu tái định cư bị thiếu nước sinh hoạt do nguồn cấp nước không đủ hoặc do người dân chưa có ý thức sử dụng nước tiết kiệm, theo định mức (80 lít/người/ngày). Bên cạnh đó, công tác quản lý và sử dụng đất đai tại các tỉnh miền núi còn một số hạn chế, bất cập liên quan đến số lượng và năng lực cán bộ (chủ yếu ở cấp huyện, xã), nguồn gốc đất (đất lâm nghiệp nhưng người dân đã sản xuất nông nghiệp từ lâu) và quyền sử dụng đất (người dân không chứng minh được quyền sử dụng đất), gây khó khăn, phức tạp cho công tác bồi thường, hỗ trợ. Công tác thu hồi, quản lý đất tại một số dự án chưa được CĐT và địa phương phối hợp chặt chẽ, quan tâm thực hiện nên đã bị người dân sở tại xâm canh, làm ảnh hưởng đến việc bố trí đất sản xuất cho các hộ tái định cư (tại các DATĐ An Khê - Ka Nắk và Đồng Nai 3). Việc tiếp nhận, quản lý, bảo vệ và vận hành khai thác kết cấu hạ tầng khu tái định cư ở một số địa bàn chưa được chính quyền địa phương và người dân thực sự quan tâm, có tâm lý trông chờ trách nhiệm của CĐT dự án, mặc dù các hạng mục này đã được nghiệm thu, bảo hành và bàn giao theo quy định. Vì vậy, không ít hạng mục đã nhanh chóng bị xuống cấp, hư hỏng. Về bồi thường vẫn còn sự bất bình đẳng lớn. Trên cùng một tỉnh có nhiều dự án cùng triển khai nhưng áp dụng các cơ chế bồi thường, hỗ trợ khác nhau đã gây khó khăn cho việc giải phóng mặt bằng, làm tăng chi phí, chậm tiến độ, giảm hiệu quả, phát sinh thắc mắc, khiếu nại của người dân”. Một số dự án chi trả tiền để người dân tự xây dựng nhà ở, bố trí đất sản xuất theo nguyện vọng cũng gặp nhiều bất cập, phải đầu tư bổ sung hạ tầng cho người dân tại nơi ở mới (tại các DATĐ Đắk Mi 4 tỉnh Quảng Nam và Hà Nang tỉnh Quảng Ngãi). Như DATĐ Bản Vẽ tỉnh Nghệ An, đời sống người dân tái định cư còn nhiều khó khăn. Bộ trưởng Công thương thừa nhận: Nhìn chung, đời sống của nhân dân tái định cư tại các DATĐ còn nhiều khó khăn, số hộ nghèo còn nhiều, thu nhập và mức sống của nhân dân thấp so với bình quân chung của toàn tỉnh. Thu nhập bình quân đầu người của các hộ dân tái định cư thuộc các DATĐ Hòa Bình, Sơn La, Nậm Chiến, Huội Quảng, Bản Chát, Tuyên Quang, Bản Vẽ, Khe Bố, Quảng Trị, A Vương và Sông Tranh 2 đạt 6,6 triệu đồng/người/hộ/năm... 66% đập chưa có phương án bảo vệ được phê duyệt Thẩm tra báo cáo, Ủy ban KH,CN&MT cho rằng, tại một số dự án, công trình TĐ, chất lượng khâu khảo sát, thiết kế, thi công, giám sát có nhiều hạn chế, gây không ít hệ lụy tiêu cực. Trong khi đó, trách nhiệm, xử lý sai phạm của chủ đầu tư, các chủ thể khác có liên quan khi công trình có chất lượng kém hoặc để xảy ra sự cố chưa được quy định cụ thể. Công tác quản lý an toàn tại các công trình TĐ nhỏ chưa thực sự tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật, tiềm ẩn nhiều rủi ro khó lường. Đối với các công trình TĐ nhỏ, gần 30% số đập chưa được kiểm định; khoảng 6% số chủ đầu tư hoàn thành cắm mốc chỉ giới; khoảng 66% đập chưa có phương án bảo vệ được phê duyệt; gần 55% số chủ đập chưa có phương án PCLB. Ủy ban đánh giá: Hiệu quả làm việc của hệ thống quan trắc tại một số công trình TĐ là rất thấp. Việc xây dựng phương án PCLB cho vùng hạ du trong tình huống xả lũ khẩn cấp, vỡ đập... gặp nhiều khó khăn, ít được quan tâm. Theo Ủy ban, nguyên nhân của những bất cập nêu trên là không ít chủ đầu tư dự án TĐ nhỏ có năng lực chuyên môn và tài chính hạn chế, quy định về chế tài xử phạt vi phạm về an toàn đập, kiểm định đập, vai trò, trách nhiệm, sự phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước và chủ đầu tư chưa được ban hành kịp thời, rõ ràng và chưa được thực thi đầy đủ. Ngoài ra, thông tin, số liệu về điều kiện tự nhiên thường không đầy đủ và thiếu cập nhật do hạn chế nguồn lực đầu tư cho giai đoạn điều tra, khảo sát khu vực dự án