Bước ra từ cuộc chiến tranh, Hoàng Trần Cương gắn bó cả phần đời còn lại của mình với các vấn đề liên quan đến tài chính, con số. Ông từng giành giải nhất cuộc thi Kế toán trưởng toàn quốc. Trước khi nghỉ hưu ông là Tổng Biên tập Thời báo Tài chính. Nhưng trên hết ông là một người cầm bút có thương hiệu trong làng văn Việt
- Thưa nhà thơ Hoàng Trần Cương, phần lớn bạn đọc biết đến ông là một người làm thơ, nhưng khởi đầu văn nghiệp ông lại viết văn xuôi. Bút ký "Hạnh phúc hôm nay" của ông giành giải A cuộc vận động viết về lực lượng vũ trang của tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1970-1972. ông có thể chia sẻ nội dung tác phẩm viết về vấn đề gì vậy?
+ Trước tiên phải nói rằng tôi không khởi nghiệp bằng văn xuôi, mà bằng thơ. Từ năm 12-13 tuổi tôi đã làm thơ trên những cuốn vở học trò. Cho đến năm 1975 khi tôi vừa rời quân ngũ trở về và cưới vợ thì gia tài thơ của tôi đã có khoảng gần 700 bài. Cố nhiên là chưa từng in ở đâu cả, ngoài một bài thơ in trên báo tường của trường phổ thông năm 1965. Đám cưới của tôi được tổ chức ở quê, khách mời có những văn nghệ sĩ rất nổi tiếng như Đặng Nhật Minh, Đỗ
Cho nên, bút ký "Hạnh phúc hôm nay" cũng có thể xem là tác phẩm đầu tay của tôi. Nó thực chất là những trang nhật ký của tôi những ngày tháng ở chiến trường. Tôi nhập ngũ năm 1970. Khi đó tôi đang là sinh viên năm thứ tư Đại học Kinh tế. Tôi làm lính pháo cao xạ tiểu đoàn 17, trung đoàn 282 (còn gọi là trung đoàn Tam Giang), sư đoàn 367. Tết 1971 đơn vị tôi tham gia chiến dịch ở ngã ba Tả Pình- đường 9 Nam Lào và bị trúng bom. Cả trung đội chỉ còn sót lại hai người, là tôi và một đồng chí nữa. Tôi bị rất nhiều mảnh bom găm vào mặt, được chuyển ra Quảng Bình để điều trị. Tôi quan sát thấy những thương binh trong bệnh viện phần nhiều là những gương mặt trẻ. Họ là những trí thức vừa tạm biệt giảng đường để đi chiến đấu. Dù đau đớn nhưng họ vẫn lạc quan yêu đời. Tôi nghĩ về những người bạn cùng chiến đấu với tôi và trùm chăn soi đèn pin để viết. Một số thương binh mách với các bác sĩ rằng, cái ông pháo cao xạ chẳng hiểu sao cứ trùm chăn cả ngày. Bác sĩ đến kiểm tra, phát hiện tôi đang viết thì tịch thu đèn pin. Và tôi lại trốn ra đồi thông để viết. Bút ký "Hạnh phúc hôm nay" ra đời trong hoàn cảnh như vậy.
- Đến khi nào thì tác phẩm này được đăng báo, thưa ông?
+ Tình cờ có một đoàn phóng viên Báo Quân đội Nhân dân do Thiếu tá Bùi Biên Thùy và phóng viên Nguyên Bình vào công tác. Trong nhiều buổi nói chuyện, chị Nguyên Bình thấy tôi thường ngồi im lặng và nhìn ra phía biên giới Lào, nơi có đồng đội tôi đang chiến đấu, chị để ý và xin đọc nhật ký của tôi. Đọc xong chị nói chuyện gì đó với chú Bùi Biên Thùy (sau này là Tổng Biên tập Báo Quân đội Nhân dân) và hai người đề nghị được mang cuốn vở của tôi về Hà Nội. Và những trang viết của tôi được in dài một trang trên Báo Quân đội Nhân dân số thứ 7. Một tuần sau khi báo ra, bệnh viện nơi tôi đang điều trị ồn ào hẳn lên, tôi bỗng dưng trở thành nổi tiếng. Thời đó, được đăng một bài trên báo là đã thành tác giả rồi. Mấy tháng sau, Tạp chí Văn nghệ Quân đội đăng lại tác phẩm này và nó được trao giải A cuộc vận động viết về lực lượng vũ trang 1970-1972. Mãi sau này khi về Hà Nội tôi mới được nghe nhà văn Hải Hồ thông báo tin này. Dĩ nhiên là rất vui, nhưng tôi không dám đến Tạp chí Văn nghệ Quân đội để nhận giải vì "sợ". Nhà số 4 Lý
- Ở bút ký "Hạnh phúc hôm nay"- những trang viết còn vương cả mùi thuốc súng, ông muốn gửi thông điệp gì đến bạn đọc? ông có xem đây là những trang viết "tập dượt", chuẩn bị cho công việc của nhà văn sau này?
+ Lúc đó tôi hoàn toàn không nghĩ đến việc mình sẽ trở thành nhà văn. Viết là để trút tâm sự của mình lên trang giấy, những nghĩ suy của tôi về đồng đội mình. Tôi đã viết: "Chỉ có ai đã sống qua những phút gian nan hiểm nghèo tưởng như không sao qua khỏi mới thấy hết cái thiêng liêng của tình đồng chí trong đó... Ai đã đi tận cùng cái vực thẳm của lòng căm thù mới cảm thấy hết cái thiêng liêng của đỉnh cao lòng yêu thương và vinh dự. Mình có một niềm tin tưởng như vậy. Tâm hồn mình đang có sự cố gắng lớn hơn lên để lĩnh hội, để hài hòa với cái khung cảnh bừng bừng của ngọn lửa cứu nước". Chính cái tinh thần ấy đã thôi thúc tôi sau khi lành vết thương tiếp tục trở lại chiến trường. Những năm tháng chiến đấu ở Quảng Trị tôi đã ghi chép trong cuốn "Vòm trời Quảng Trị" xuất bản năm 1973. Cuốn sách này mới đây được nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm sử dụng làm tư liệu cho phim "Mùi cỏ cháy" mà anh viết kịch bản.
- Có thể nói các nhà văn thế hệ ông phải trả giá cho các trang viết của mình không chỉ bằng mồ hôi, mà cả bằng máu. Đâu là bài học quan trọng mà chiến tranh đã "dạy" ông trong công việc của người cầm bút?
+ Bài học lớn nhất của chiến tranh đối với nghề viết của tôi, là phải biết tiết kiệm thời gian, phải biết chớp lấy những khoảnh khắc mà cuộc sống mang lại cho mình. Cứ sau trận bom là tôi lại rời mâm pháo rồi cắm mặt vào viết. Đồng đội gọi tôi là Cương "hâm". Có cậu nhắc tôi, ở chiến trường nay sống mai chết thì viết làm gì. Nhưng tôi vẫn viết vì nghĩ không thế để những khoảnh khắc này tuột mất. Sau này, tất cả những ghi chép ấy nó trở thành chất liệu trong tác phẩm của tôi. Không phải vô lý khi nhà văn Thanh Thảo nhận xét: "Hoàng Trần Cương đã hút được hồn cốt của đất đai và những khoảnh khắc mình đang sống. Phải chăng đó cũng là số phận của những nhà văn thời chống Mỹ vinh quang mà gian lao".
- Chiến tranh tất nhiên không bao giờ được xem là một sự lựa chọn, nhưng ở góc độ người cầm bút, có thể xem ông đã may mắn khi được chứng kiến những khoảnh khắc lịch sử của dân tộc và chính nó làm nên văn chương Hoàng Trần Cương sau này?
+ Trong những điều kiện không được phép chọn lựa, khi ta buộc phải đối đầu với cuộc chiến thì tất cả những dấu ấn để lại, ít nhất cũng là một phép thử, không chỉ là "sức khỏe" của người lính, mà còn là "sức khỏe" của cả dân tộc. Với cách nhìn ấy thì tôi cũng có thể dùng chữ may mắn khi là một người lính cầm bút đi ra chiến trường và được chứng kiến những khoảnh khắc của lịch sử.
- Cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước đã tạo ra một hình tượng nổi bật nhất, là hình tượng người lính Cụ Hồ- một biểu tượng đẹp nhất của thế kỷ 20. Ngay từ tác phẩm đầu tay, và các tác phẩm sau này của ông, cũng như tác phẩm của rất nhiều nhà văn cùng thế hệ đã khắc họa hình ảnh người lính trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Nhìn lại, ông thấy rằng văn học chiến tranh của chúng ta đã khắc họa thành công biểu tượng đẹp nhất của thời đại hay chưa, hay là chúng ta vẫn phải chờ đợi tác phẩm của các nhà văn trong tương lai- những người không trực tiếp tham gia vào cuộc chiến nhưng lại có "điểm lùi thời gian" để nhìn cuộc chiến?
+ Phẩm chất của người lính Cụ Hồ toát lộ qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, theo góc nhìn của tôi, thực chất là sự thăng hoa của truyền thống dân tộc, cụ thể hơn là sự thăng hoa của ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc. Đó còn là sự kết tụ phẩm chất của nhiều vùng quê trong những biến động thời cuộc trở thành sức mạnh quật cường không kẻ thù nào có thể đánh gục. Những nhà văn trải qua chiến tranh đã làm tốt sứ mệnh của mình, là tôn vinh hình tượng người lính. Đánh giá thế nào cũng là vội vàng. Nhưng chúng ta cũng đừng ngộ nhận. Nhiều tác phẩm văn học lớn viết về chiến tranh được viết khi cuộc chiến đã lùi xa mấy chục năm, thậm chí là hàng thế kỷ. Chúng ta có thể sớm có những tác phẩm như vậy, nhưng cũng có thể là rất lâu nữa. Và tôi luôn tin rằng những cái tươi tốt của quá khứ sẽ luôn còn lưu hương đến tương lai. Đến lượt mình, các nhà văn trẻ sẽ khai thác nó. Họ sẽ nghe thấy những tiếng thì thầm của quá khứ, sẽ hiểu được rằng họ đang có một tài sản miễn phí mà thế hệ cha anh phải đổ xương máu mới có được, đó là bề dày lịch sử đáng tự hào với những biểu tượng và chất liệu rất khổng lồ cho sáng tạo văn học.
- Các nhà văn cầm súng ra chiến trường thế hệ ông luôn gắn chặt số phận mình với số phận của nhân dân, của đất nước. Những trang viết cũng bắt đầu từ thực tế ấy. Còn hôm nay dường như nhà văn trẻ đang lãnh cảm với các vấn đề của đất nước. ông nghĩ gì về điều này?
+ Vừa rồi chúng ta có dùng từ may mắn để nói về thế hệ tôi, nhưng có lẽ từ này dùng để nói về câu chuyện nhà văn trẻ thì đúng hơn. Họ được học hành tốt hơn, có điều kiện sáng tác tốt hơn và đặc biệt là họ được sống trong thời đại dồi dào thông tin. Nhưng có điều đáng tiếc là tôi chưa nhìn thấy sự kết tủa, chăm chú, chuyên tâm của nhà văn trẻ ở những đề tài mà họ quan tâm. Hiếm hoi đỉnh cao trong tác giả trẻ tuổi đời từ 30-50. Việc nhà văn trẻ hời hợt với chính trường, với đời sống xã hội, với các vấn đề hệ trọng của nhân dân, nếu điều này là có thật, thì theo tôi, chính thế hệ cha anh phải chịu trách nhiệm. Sự cống hiến vô bờ bến của thế hệ cha anh đã làm họ kiệt sức, và sự kiệt sức này đã đem lại "hoa thơm trái ngọt" cho đất nước. Nhưng nhìn kỹ mà xem, phía sau những "hoa thơm trái ngọt" ấy đang có những khoảng trống. Đó là khoảng trống của thời đương đại, khi thế hệ cha ông chỉ toàn tâm toàn ý với nhiệm vụ bảo vệ đất nước của mình mà bỏ sót tương lai trong việc nuôi dưỡng, ươm mầm thế hệ trẻ? Sự lãnh cảm về chính trị của lớp trẻ nói chung và giới văn trẻ nói riêng là bắt nguồn từ quá khứ.
- Là người đã trả giá cho văn chương, nếu cần phải nói một điều gì với các nhà văn trẻ hôm nay, điều ông muốn nói là gì?
+ Tôi nói rằng, mặc dầu thời gian là vàng ngọc, và có thể với người trẻ thì thời gian còn dài lắm. Nhưng tiếc thay thời gian lại chính là mặt hàng không giá nào mua được. Hãy quý trọng thời gian và nếu đến với văn chương thì hãy thành tâm với nó. Văn chương thay vì là son phấn, phải được coi là máu huyết, may ra bạn mới được đền đáp lại.
- Câu hỏi cuối cùng xem ra không mấy liên quan đến cuộc trò chuyện về tác phẩm của ông hôm nay, nhưng vì nó là vấn đề thời sự mà nhà văn không thể không quan tâm, là việc Quốc hội đang nêu ý kiến nên hay không nên ban hành Luật Nhà văn. Xin được hỏi quan điểm của ông về vấn đề này?
+ Mỗi nhà văn trước hết là một công dân và tự điều này đã cắt nghĩa tất cả. Bản thân mỗi nhà văn đều được điều chỉnh hoặc tự điều chỉnh bằng một thứ luật của riêng mình, đó là tác phẩm. Còn "sai, đúng, trúng, trật" hay có sự đụng chạm nào thì trước tiên người phương hại là chính họ. Nước ta hiện nay còn thiếu nhiều luật lắm. Theo tôi nghĩ Quốc hội nên dành thời gian cho những vấn đề quan trọng khác của xã hội, không nên "tham đĩa bỏ mâm". Xin quý vị hãy tiết kiệm thời gian cho dân nhờ.
- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện thú vị