PV: Xin ông cho biết một số ý kiến về tình hình vay và cho vay “tín dụng đen” đang gây rúng động, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội hiện nay?
Chúng ta thấy hoạt động tín dụng là nhu cầu cần thiết của mọi thành phần kinh tế, cũng như của nhu cầu cá nhân trong đời sống xã hội. Xuất phát từ nhu cầu đấy, thời gian qua do nhiều nguyên nhân khác nhau, những đơn vị kinh tế và cá nhân có nhu cầu vay vốn nhưng không tiếp cận được nguồn tín dụng của ngân hàng, phải tìm những nguồn vốn ngoài xã hội. Hoạt động tín dụng ngoài sự quản lý của Nhà nước diễn ra hết sức phức tạp, ở nhiều nơi, nhiều chỗ, nhiều địa phương, đã kéo theo nhiều hệ lụy về mặt xã hội phức tạp, gây hậu quả lớn, mất ANTT, dẫn đến việc đòi nợ thuê của các đối tượng “xã hội đen”, xảy ra việc bắt giữ người trái pháp luật, cố ý gây thương tích… thậm chí có nhiều đối tượng không trả được món nợ quá lớn dẫn đến tự sát.
Qua thực tế xử lý, chúng tôi thấy có 3 dạng: Dạng thứ nhất, những đối tượng cho vay lợi dụng nhu cầu cần thiết của người cần vay, cho vay tiền với lãi suất cao, có khi từ 4%/ngày và có thể còn cao hơn thế nữa. Dạng thứ hai, đối tượng lợi dụng nhận thức hạn chế về mặt pháp luật của người đi vay để yêu cầu thế chấp tài sản, đồng thời ủy quyền cho họ quyết định bán các tài sản của mình. Các đối tượng đưa ra lãi suất không cao, hợp đồng đều có công chứng, nhưng nhiều trường hợp sau khi cho vay, đối tượng lập tức bán tài sản của họ với mức giá không phù hợp với giá thực tiễn để chiếm đoạt tài sản của họ. Dạng thứ 3, lợi dụng nhu cầu cho vay của người vay, một số đối tượng đứng ra huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong nhân dân với hứa hẹn lãi suất cao, nhưng thực tế chúng huy động xong không cho ai vay mà chiếm đoạt, bỏ trốn luôn.
PV: Trước tình hình vỡ "tín dụng đen", có những đơn vị, địa phương thì cho là dân sự, nhưng cũng có đơn vị cho rằng hình sự… Theo quan điểm của ông, với cương vị là lãnh đạo cơ quan kiểm tra, giám sát tiến hành tố tụng thì nên như thế nào?
Để xử lý chính xác, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, trước hết ngoài hành vi của các đối tượng này phải quan tâm, làm rõ được động cơ, mục đích, ý thức chủ quan của họ như thế nào. Phải làm rõ được thì mới định được tội danh một cách chính xác. Nếu động cơ, mục đích chỉ nhằm cho vay để hưởng lãi suất cao thì có thể là tội "cho vay lãi nặng". Nhưng nếu cho vay có thế chấp tài sản, lợi dụng nhận thức kém của người dân sau khi cho vay để bán tài sản người ta thì rơi vào tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Nếu huy động tín dụng nhằm mục đích chiếm đoạt, cũng là tội lừa đảo. Hoặc có động cơ, mục đích khác rơi vào tội "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản", ví dụ như ban đầu cho vay, huy động chưa có ý chiếm đoạt, nhưng sau này khi vay mượn, huy động được tài sản rồi mới nảy sinh thì rơi vào tội "lạm dụng tín nhiệm, chiếm đoạt tài sản".
Như vậy căn cứ vào từng hành vi, động cơ, mục đích, ý thức chủ quan của các đối tượng phạm tội mới xác định được chính xác tội danh. Cụ thể, nếu là tội lừa đảo, phải có yếu tố chiếm đoạt, còn tội "cho vay lãi nặng" phải có hành vi cho vay hưởng lãi suất cao gấp 10 lần mức lãi suất quy định.
PV: Các cơ quan tư pháp, tổ chức chính quyền xã hội cần phải làm gì để ngăn chặn những hành vi trên?
Thời gian vừa qua các cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung từ trung ương đến địa phương đã có sự phối hợp nhằm ngăn chặn tình trạng này, đảm bảo trật tự an toàn xã hội.
Đối với hành vi "cho vay lãi nặng", theo quy định pháp luật, mức lãi suất phải gấp 10 lần lãi suất của ngân hàng, phải có tính chuyên nghiệp và có tính bóc lột. Tuy nhiên hiện nay Nhà nước chỉ khống chế trần huy động chứ không quy định trần lãi suất cho vay. Mà lãi suất cho vay các đối tượng tự thỏa thuận. Vì thế nhiều địa phương lúng túng ở chỗ gấp 10 lần này là lãi suất huy động hay lãi suất cho vay. Rồi như thế nào là có tính chuyên nghiệp hay có yếu tố bóc lột… cũng chưa có một văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền quy định và hướng dẫn cụ thể để xử lý…
Đối với trường hợp cho vay thế chấp tài sản có ủy quyền được công chứng, hầu hết hợp đồng này có ý thức từ đầu. Mặc dù đối tượng không đòi hỏi lãi suất cao nhưng mọi thủ tục về cho vay tiền rất chặt chẽ, nhiều trường hợp có xác nhận của công chứng viên, nhất là hợp đồng ủy quyền. Vì vậy sau khi mất tài sản, mất nhà, nạn nhân mới có đơn tố cáo, nhưng khi xem xét văn bản thì rất khó khăn trong việc bác các công chứng, vì chính công chứng đã xác nhận sự tự nguyện giao dịch trong dân sự của hai bên. Cơ quan chức năng gặp khó khăn trong khâu xử lý.
Trường hợp đối tượng đi huy động vốn, đôi khi do các đối tượng dựa vào lòng tham lãi suất cao của người cho vay tiền nên mới bị lừa. Khi xử lý, có khi chính những người bị hại lại là đối tượng phạm tội vì đi cho vay lãi nặng. Mặc dù họ chưa lấy được lãi nhưng họ đã sai khi cho vay lãi vượt mức quy định của Nhà nước.
Trên cơ sở đó, Vụ 1, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, là cơ quan tham mưu cho ngành trong lĩnh vực quản lý kinh tế và chức vụ, vừa qua đã tập hợp những tình hình hoạt động tín dụng trái pháp luật (mà chúng ta vẫn gọi là “tín dụng đen”) và những khó khăn, vướng mắc trong việc xử lý. Chúng tôi đã xây dựng một chuyên đề nghiệp vụ. Tuy nhiên việc làm của chúng tôi mới chỉ đáp ứng một phần nào đó để giải quyết những bức xúc trong thực tiễn đặt ra, đối với việc xử lý các hành vi này ở góc độ cơ quan kiểm sát điều tra. Còn muốn xử lý, áp dụng một cách thống nhất, triệt để, thiết nghĩ cần phải có một thông tư liên tịch của 3 ngành Tư pháp Trung ương để hướng dẫn cho tất cả cơ quan bảo vệ pháp luật, cơ quan tiến hành tố tụng để xử lý hành vi này.
Mặt khác chúng tôi cũng đề nghị ngành ngân hàng cần nghiên cứu để có cơ chế về mặt hành chính, thủ tục, điều kiện thông thoáng hơn để mọi thành phần kinh tế cũng như người dân có nhu cầu tín dụng có thể tiếp cận được nguồn vốn của ngân hàng. Nếu chúng ta làm được như vậy thì mới có thể ngăn chặn có hiệu quả hành vi “tín dụng đen” này được.
PV: Xin cảm ơn ông!