Cứ chiều chủ nhật, sân khu tập thể lại xuất hiện một ông già tóc đã bạc gần hết, dắt tay một đứa bé chừng 5 tuổi đi dạo. Mới đầu người ta nghĩ đó là cháu của ông, nhưng lắng nghe câu đối thoại của họ, người ta nhận ra rằng cô bé kia chính là con đẻ của ông già tóc bạc đó. Ông già có tên là Thính, mới xuất hiện ở khu dân cư này chừng vài tháng và trở thành mục tiêu của sự bàn tán.
Ông Thính đã về hưu, nhưng ban ngày ông thường đi làm thêm cho một đơn vị đến tối mịt với về nhà. Căn nhà đó không phải của ông mà là của bà Minh, một phụ nữ bị tai biến liệt nửa người. Bà Minh trước đây là giảng viên của một trường đại học. Khó tính nhưng lại rất mơ mộng, không một người đàn ông nào lọt được vào mắt xanh của bà trong suốt thời con gái son sắc. Cho đến năm 48 tuổi, bà mới gặp ông Thính và ngất ngây bởi tiếng sét ái tình.
Lúc này ông Thỉnh đã 60, sức lực đã xuống dốc, nhưng mồm miệng của ông vẫn còn linh hoạt lắm. Hơn nữa, ông lại biết làm thơ. Chẳng hiểu ông Thính có cảm xúc thật trước bà Minh hay là ông “mượn tạm” những vần thơ mà ông đã từng tặng cho những người đàn bà khác. Mỗi khi ông đọc thơ, bà Minh luôn nghĩ rằng đó là những điều sâu lắng nhất, thăng hoa nhất, những cảm xúc nồng nàn nhất mà ông Thính dành cho bà. Rồi bà biến căn hộ mà bà tích cóp cả đời mới mua nổi thành nơi luận thơ uống trà, rồi sau đó là những món ăn mà bà tấp tểnh mua về đãi ông cùng với chén rượu quê thơm phức. Hai người cứ thế sống trong một không gian hết sức hạnh phúc.
Trong khoảng một tháng, căn hộ trở thành nơi tách biệt hoàn toàn khỏi sự xô bồ bên ngoài. Sau những tiết giảng, bà Minh tất tả đi chợ chuẩn bị bữa cơm rồi chờ ông Thính về uống rượu và cất lên những vần thơ tán tụng. Những tưởng hạnh phúc sẽ không thể hơn thế thì đùng một cái, anh trai bà Minh xuất hiện phá tan cái không khí “thiên đường” đó. Ông anh bà Minh chỉ mặt ông Thính nói: “Ông là ai tôi biết rất rõ. Vợ ông ở quê ông còn chưa li dị. Con cái ông nó mà biết chuyện này, liệu nó có để yên cho em gái tôi không? Tôi nói cho ông biết, căn nhà này là do tôi đứng tên. Quyết định cho ai trú ngụ ở đó là quyền của tôi”.
Thế là từ bữa đó, ông Thính lặn mất tăm, bà Minh buồn lắm. Ông anh trai của bà nói rằng gã này nhân cách không đàng hoàng. Cho dù gã có li dị vợ rồi thì cũng phải xem xét lại động cơ của gã. Chắc gì hắn đã yêu bà Minh thật lòng. Rất có thể mục đích của ông Thính chỉ là căn hộ và một chỗ nương thân ở Hà Nội.
Ông là một kỹ sư cơ khí giỏi, từng đi học tại Liên Xô, vợ con ông sống ở quê. Ông cũng từng có một căn nhà tại Hà Nội. Nhưng cái máu trai gái khiến ông phải chia tay với nó một cách đau đớn. Ông phải lòng một cô gái trẻ, và thuê nhà cho cô ta để sống như vợ chồng. Để có được một cô bồ trẻ đẹp như vậy, ông Thính tốn kém rất nhiều tiền bạc. Như muốn chứng minh với ông rằng mình cũng biết làm ăn, một ngày cô bồ mời về nhà một đối tác muốn được cùng ông Thính làm ăn.
Kế hoạch vạch ra và thực hiện khá suôn sẻ. Ông Thính góp ½ số vốn và công sức kỹ thuật, đối tác góp ½ số tiền và lo phần tiêu thụ. Làm ăn đang đà khởi sắc thì bỗng dưng cả đối tác lẫn cô bồ đều biến mất. Hóa ra là họ mang sản phẩm do ông làm ra dập nhãn một thương hiệu nổi tiếng vào và đem đi tiêu thụ. Bị Công an phát hiện nên họ đã vét hết tiền của rồi bỏ trốn. Ông Thính không bị bắt, nhưng sản phẩm của ông không có thương hiệu nên rất khó tiêu thụ. Nợ nần lãi mẹ đẻ lại con, ông Thính phải bán cả nhà đi để trả nợ.
Từ khi đó ông nảy ra suy nghĩ, rằng vì tin lời đàn bà mà ông mất ngôi nhà, với tài năng mưu mẹo của ông, cớ gì ông không thể làm đàn bà tin mình để kiếm một ngôi nhà. Thế là ông lao vào hành trình “kiếm nhà” theo cách riêng của mình.
Ông anh trai bà Minh đã đúng. Khi nhấn mạnh rằng căn hộ do ông đứng tên, ông Thính đã một đi không trở lại. Căn hộ đó do ông anh bà Minh đứng tên thật, bà Minh mua lại của anh trai nhưng không làm thủ tục sang tên để tránh một khoản thuế khá lớn. Bà và anh trai chỉ thỏa thuận mua bán viết tay và có đủ cả chữ ký của vợ con ông anh trai. Ông anh trai bà vì sợ em bị lừa nên bất đắc dĩ phải lấy “quyền làm chủ nhà” để dọa ông Thính.
Sau vố bị anh trai bà minh bóc mẽ, ông Thính có vẻ đã rút được kinh nghiệm. Ông về quê hoàn tất việc li hôn với vợ và mục tiêu mới của ông là một người phụ nữ góa chồng. Con gái của bà ta đã lập gia đình ra ở riêng, bà đang sở hữu một căn nhà với đầy đủ giấy tờ.
Vẫn là những vần thơ lãng mạn, vẫn là những câu nói tràn ngập tình yêu thương mà hiếm người đàn ông nào ở độ tuổi như ông có thể nói được: “Em làm sao mà xanh thế, để anh pha nước chanh cho em uống nhé. Em có đau chân không để anh xoa bóp. Em thích ăn món gì để anh mua, hay là anh chở em đi ăn quán nhé...”. Người đàn bà tưởng như đã khô héo bỗng được chăm sóc, nâng niu như cái thuở còn là thiếu nữ. Bà trở nên nhuận sắc và đẫy đà hẳn lên. Bà dễ dàng gục ngã trước ông Thính và mời ông về ở cùng.
Ông Thính sống với người phụ nữ này một thời gian thì người đàn bà gần 50 tuổi này phát hiện mang thai đã 3 tháng tuổi. Cũng chẳng hiểu sao họ quyết định giữ lại đứa bé. Có người bảo rằng ông Thính quyết định giữ lại đứa bé với mục đích sau khi sinh nở sẽ đăng ký kết hôn và làm đám cưới với người đàn bà kia. Ông ta sẽ đường hoàng sống trong ngôi nhà của vợ và an hưởng tuổi già ở chốn đô thành vốn đã quen thuộc với ông.
Nếu đúng như vậy thì quả thật ông Trời đã hiểu được mưu đồ đen tối đó và chơi ông Thính một vố. Người phụ nữ kia do tuổi cao hay mắc bệnh về tim mạch gì đó, bà ta sinh cho ông một cô con gái rồi qua đời ngay trên bàn đẻ. Ông Thính già nua lọm khọm lo toan làm đám tang cho bà vợ hờ. Sống ở ngôi nhà đó để chăm nuôi đứa con gái được gần một năm thì bị anh em họ hàng người phụ nữ đuổi ra khỏi nhà. Những anh chị em của người đàn bà kia toàn thuộc dạng dân anh chị. Ông Thính là dân nghiên cứu, nhiều mưu mô nhưng không thể “đấu” được với những kẻ sẵn sàng “xin ông tí tiết”. Ông Thính muối mặt đem đứa bé về quê nhờ các con nuôi giúp. Ông trở lại Hà Nội để tìm kết nối lại với bà Minh.
Sự trở lại của ông Thính khiến bà Minh vừa giận vừa mừng. Giận vì ông Thính bỏ đi, mừng vì dù sao bà vẫn rất thèm được nghe những lời đường mật của ông. Ông Thính chẳng mất nhiều công sức để xoa dịu sự giận dỗi đó. Ông đưa cho bà Minh xem những lá thư nhòe nhoẹt nước mắt mà ông viết nhưng giữ lại không gửi cho bà. Những bức thư đều mang một nội dung đau đớn, giằng xé vì không đến được với người mình yêu, rằng bị xúc phạm, rằng lòng tự trọng đàn ông không dễ dàng để ông quay lại... Rồi ông Thính chốt một câu rằng, sức mạnh tình yêu đã lớn hơn tất cả, ông đã gạt bỏ tất cả những sự tự ái nhỏ nhặt đó để trở lại với bà Minh.
Chẳng hiểu do ông Thính khéo ăn nói hay do quá cô đơn mà chỉ một tháng sau, bà Minh đã đồng ý làm đám cưới với ông Thính, cho dù các ông anh, bà chị ra sức khuyên can. Đám cưới của hai người diễn ra giản dị dưới sự giúp đỡ của ngôi trường mà bà Minh công tác. Cưới nhau được 1 năm thì ông Thính đón đứa con gái ở quê lên trước sự ngỡ ngàng của gia đình bà Minh. Nhưng chuyện đã rồi, họ chấp nhận đứa bé như một thành viên trong gia đình với hy vọng sau này bà Minh già yếu, đứa bé sẽ là chỗ nương tựa.
Cha già con cọc tưởng đã khổ lắm rồi, thế nhưng những khó khăn luôn bám riết lấy ông. Bà Minh bỗng nhiên bị tai biến và liệt nửa người. Bao nhiều tiền của tiết kiệm của bà đều đổ vào thuốc thang chạy chữa. Ông Thính vừa phải kiếm tiền nuôi con, giờ lại phải chăm sóc thêm bà vợ liệt. Những người hàng xóm thường xuyên thấy ông lỉnh kỉnh thịt, rau... về nhà lúc trời đã tối mịt. Đèn nhà ông thường xuyên sáng đến quá 12h khuya. Những đứa con lớn của ông Thính thỉnh thoảng lên Hà Nội thăm bố, chúng mang theo gạo, mắm, cá khô... để ông ăn dần.
Bà vợ cũ của ông cũng lên thăm một lần. Những người hàng xóm thấy bà ta nở một nụ cười khi ra khỏi căn hộ đó. Họ nói với nhau rằng, nếu ông Thính không bỏ vợ và chấp nhận một cuộc sống an nhàn nơi quê hương, chắc chắn ông đã không phải chịu cảnh khổ sở đến như thế. Đó là cái giá phải trả của một mưu đồ không tốt đẹp. Một căn hộ ở Hà Nội sẽ chẳng là gì đối với những nỗi vất vả sẽ theo ông đến tận cuối đời. Quả thật ông Thính đã đi một nước cờ hết sức sai lầm