Tổng thống Nga nhận xét rằng, đây là lần đầu tiên ông tới
Giá trị vĩnh cửu
Anton Chekhov từng hành nghề bác sĩ, nhưng ông nói: "Nghề y là người vợ hợp pháp của tôi, văn học là tình nhân của tôi". Nhưng chỉ khi đã đứng tuổi rồi, ông mới cưới vợ. Trước đó, ông không muốn chia sẻ cùng bất cứ người phụ nữ nào tình yêu lớn nhất của ông, tình yêu đối với văn học…
Cho tới hôm nay vẫn liên tục có rất nhiều cuốn sách viết về Anton Chekhov được xuất bản. Các tác phẩm của ông không ngừng được dàn dựng trên sân khấu hay chuyển thành phim… Nhiều nhà văn lớn trên thế giới coi ông là sư phụ của mình. Các nhà phê bình văn học không mệt mỏi trong những nỗ lực tìm cái giống và cái khác trong các tác phẩm của Chekhov so với các nhà kinh điển của văn học thế giới.
Tuy nhiên, cho tới hôm nay vẫn ít ai có thể lý giải rành rẽ, bằng cách nào mà một cậu bé con nhà thương gia lại có thể trở thành một văn hào có chiều sâu tình cảm nhân văn đến mức đại đa số các tác phẩm của ông không những không bị tan nát trong các bão tố chính trị văn hóa của thế kỷ XX mà vẫn còn là những người bạn đường trung thành của nhân loại ngay cả trong thế kỷ XXI.
Cha Chekhov là một thương gia độc đoán, giả trưởng, hay hăm dọa con cái và thường quát mắng vợ, nhất là khi đã ngà ngà say. Mẹ của nhà văn, bà Evguenia, là một phụ nữ dịu hiền, nhẫn nại chịu đựng mọi áp chế của chồng và những năm tháng đói nghèo. Bà không thích đọc và viết mà chỉ sống bằng những buồn vui của người thân, trước hết là của những đứa con. Bốn trong bảy người con của bà đã mất trước mẹ. Chekhov là người con thứ ba trong gia đình.
Không thể nói là trong con người của Anton Chekhov không có những nét bẩm sinh gia truyền giống người cha nhưng ông đã tự đào luyện và tu dưỡng để trở thành một Chekhov như mọi người đều biết, một trí giả.
Ngay từ nhỏ, cậu bé Anton đã sớm nhận thức được những cảnh ngộ xung quanh, trước tiên là ở trong gia đình mình. Anton biết rõ những điểm yếu của cha nhưng không oán hận người đã sinh thành ra mình mà chỉ đơn giản lý giải được những hoàn cảnh và tình huống này đã khiến cha mình trở nên như vậy.
Và vì thế, Anton không "đổ thêm dầu vào lửa" mà chỉ cố gắng làm dịu đi những vụ việc ầm ĩ trong nhà. Anton đã cố gắng làm cho cha trở nên hiền lành hơn vì cậu bé rất yêu mẹ. Cậu cũng biết rằng mẹ cậu sẽ chịu đựng được mọi sự nặng nề trong gia đình nếu còn có những người thân thông cảm và thấu hiểu.
Năm 17 tuổi, văn hào tương lai đã viết cho người anh họ Mikhail: "Hãy làm ơn tiếp tục an ủi mẹ em... Tính mẹ em rất cần được những sự hỗ trợ tinh thần của người khác. Đối với chúng em không có gì quý giá hơn mẹ…". Như thể đấy là người cha chứ không phải là một cậu con trai!
Anton Chekhov thường được gọi là trí giả số một của nước Nga. Không phải là ông đứng đầu trong làng trí giả Nga mà là ở tính cách đậm đặc chất trí giả trong những tác phẩm của ông, trong cách sống và cách nghĩ của ông.
Ông là tác giả của câu nói nổi tiếng rằng, ở con người mọi thứ đều phải tuyệt vời, cả gương mặt, cả ý nghĩa, cả tâm hồn, cả quần áo… Năm 26 tuổi, Anton Chekhov đã viết cho người anh trai Nikolai những suy tư mà về sau đã trở thành bộ luật bất thành văn của những người có giáo dục:
" - Họ tôn trọng nhân cách con người nên luôn rộng lượng, lịch thiệp, nhún nhường... Họ không cuồng nộ vì sữa hay vì sợ dây cao su bị mất; sống với ai đó, họ không coi đấy là hạo cố và khi ra đi, họ không nói không thể sống được cùng anh! Họ chịu đựng được cả tiếng ồn, cả giá lạnh, cả miếng thịt bị cháy và cả những lời châm chọc cũng như sự có mặt của người ngoài trong ngôi nhà của họ…
- Họ thương cảm không chỉ những người ăn mày hay những chú mèo. Họ xót xa bằng cả tấm lòng với cả những gì mà mắt thường không nhìn thấy. Thí dụ, nếu một cậu Piotr nào đó biết rằng cha mẹ cậu bạc tóc vì buồn và đêm đêm mất ngủ bởi họ ít được thấy Piotr hoặc giả có thấy thì cũng thấy Piotr trong trạng thái ngà say thì chắc Piotr sẽ vội vã về thăm họ và bỏ ngay rượu vodka…
- Họ tôn trọng sở hữu cá nhân của người khác và vì thế, họ đóng thuế…
- Họ chân thành và sợ những lời nói dối như sợ lửa. Họ không nói dối ngay cả trong những việc nhỏ. Sự dối trá là xúc phạm với cả người nghe và làm mất giá người nói trong mắt người nghe. Họ không khoa trương, cư xử ngoài phố cũng như ở nhà, không tung bụi vào mắt những người thấp hơn mình… Họ không ba hoa và không bạ đâu cũng dốc bầu tâm sự… Vì tôn trọng cái tai của những người khác nên họ thường im lặng.
- Họ không làm mình làm mẩy để gợi sự thương hại của người khác. Họ không lợi dụng lòng trắc ẩn của người khác để cầu lợi cho mình. Họ không than: "Chẳng ai hiểu tôi cả!"…
- Làm ra ít, họ không mang theo mình những đồ vật đắt tiền và không khoe rằng họ vào được cả những nơi mà những người khác không vào được. Những tài năng đích thực thường ngồi trong bóng tối, trong đám đông, xa nơi đô hội…
- Nếu họ có tài, họ rất trọng tài. Vì tài năng họ hy sinh cả sự yên ổn, phụ nữ, rượu chè, danh vọng…
- Họ tự giáo dục trong mình khiếu thẩm mỹ. Họ không thể ngủ trong cả bộ y phục, không thể nhìn thấy rận ở lỗ thủng trên tường, không thể thở không khí ô nhiễm, phàm phu tục tử… Họ cố gắng làm giảm bớt và làm trong lành bản năng tình dục của mình…
Để trở thành như thế, họ cần lao động liên tục ngày đêm, thường xuyên đọc sách, nghiềm ngẫm, ý chí…".
Tình yêu trong những bức thư
Người vợ duy nhất và cũng là cuối cùng của Chekhov là Olga Knipper, nữ diễn viên chủ đạo của Nhà hát hàn lâm Moskva (MKHAT).
Hai người gặp nhau vào tháng 9/1898, tại buổi đọc kịch bản "Chim hải âu" của Chekhov. Khi đó, nhà văn đã 38 tuổi, còn Olga mới 30…
Trong 6 năm quan hệ với nhau, vai trò giữa họ đã có không chỉ một thay đổi: thoạt tiên, đó là quan hệ giữa một kịch tác gia với một nữ diễn viên, rồi là quan hệ tình nhân và tiếp theo là quan hệ giữa chồng với vợ, rồi cuối cùng là quan hệ giữa một bệnh nhân nặng với một người coi sóc.
Olga Knipper đã luôn luôn bận bịu với những vai diễn. Trong suốt 5 năm kết hôn với nhau, Chekhov do bệnh nặng chủ yếu phải sống xa vợ ở
Chỉ có mùa hè, Chekhov và vợ mới có những ngày ngắn ngủi bên nhau nhưng ngay cả khi đó, bệnh tình của Chekhov cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đối với quan hệ vợ chồng giữa hai người. Mặc dầu vậy, họ vẫn yêu nhau một cách đích thực.
Trong 5 năm quan hệ với nhau, từ năm 1899 tới năm 1904, hai người viết cho nhau khoảng 400 lá thư. Những lá thư này về sau đã được in bằng tiếng Nga và tiếng Anh. Cũng chính trong giai đoạn trên sân khấu MKHAT đã dựng 4 kịch bản của Chekhov và trong vở diễn nào cũng có vai chính do Olga đảm nhiệm.
Anton Chekhov và Olga Knipper bắt đầu viết thư cho nhau năm 1899, sau khi vở "Chim hải âu" được dựng trên sân khấu MKHAT. Lần đầu tiên Olga đảm nhận vai chính trong vở kịch này. Những lá thư được viết ra theo dòng diễn ra của các buổi tập rồi sau khi vở kịch "Bác Vania" của Chekhov được dàn dựng (tháng 10/1899) và trước buổi công diễn vở "Ba chị em" cũng của Chekhov (tháng 1/1901).
Sau buổi công diễn này, họ làm quen với gia đình nhau, cùng nhau rời Moskva tới
Sự trao đổi thư từ giữa hai người đã kết thúc vào tháng 4/1904, khi Chekhov về lại Moskva rồi cùng Olga sang Đức để cuối cùng ông qua đời tại khu dưỡng bệnh Badenweiler ngày 2/7/1904.
Điều kiện mà trong đó hai người viết thư cho nhau rất khắc nghiệt: Olga luôn bận bịu với công việc trong nhà hát, còn Chekhov thì lại luôn đau ốm. Hai người thường ở cách nhau rất xa. Olga chỉ có thể viết cho Chekhov từ nhà hát sau khi buổi diễn kết thúc hay từ nhà, sau những dạ tiệc kéo dài suốt đêm, hoặc ở trên toa tàu hỏa khi bà trở về Moskva từ Yalta.
Còn Chekhov viết thư cho vợ mình từ
Mặc dầu vậy, hai người vẫn thường xuyên trao đổi thư từ với nhau như thể tìm thấy trong thế thêm sinh lực. Xa mặt nhưng chẳng cách lòng… Olga đã là sợi chỉ duy nhất nối Chekhov, đang chống chọi với bệnh tật ở
Còn Olga, qua những bức thư muốn làm dịu đi cảm giác tội lỗi về việc bà không thể ở cạnh người chồng, kịch tác gia vĩ đại nhất của nước Nga và cũng là sự đảm bảo thành công của bà trên sân khấu, trong cơn trọng bệnh. Trong các lá thư họ viết cho nhau nói về những việc bình thường trong đời sống gia đình: về sức khoẻ của nhau, về tiền bạc, về thời tiết, về các chuyến đi…
Trong thư cũng nói tới sự ghen tuông của Olga với người em gái Masha của Chekhov, về sự lo lắng của ông trước nếp sống thượng lưu phù phiếm của vợ… Cả hai cũng đều viết về nỗi cô đơn và buồn nhớ của mình. Đôi khi các bức thư của họ rất ngắn ngủi, chỉ có một dòng thôi và chỉ là lời hứa sẽ viết thêm sau đó…
Khi bệnh tình của Chekhov càng trở nên trầm trọng thì thư ông viết càng ngắn ("Hôm nay anh chỉ ăn xúp và trứng, anh không thể ăn thịt cừu được nữa"…), còn thư của Olga lại thêm phần tuyệt vọng ("Làm sao em không xấu hổ khi xưng mình là vợ anh").
Mặc dầu bi thảm thế nhưng các lá thư họ viết cho nhau vẫn rất sinh động và dịu dàng. Olga viết như bà quen diễn trên sân khấu: nồng nàn, gọi ông là "anh yêu, anh thân quý", còn ông viết như ông sống trong đời thường, gọi bà bằng đủ các loại tên, lúc là "Olga thân yêu", lúc là "con cún con của anh", lúc là "con ngựa bé bỏng", lúc lại là "cá sấu nhỏ"…
Oái oăm thay, lúc tình yêu đích thực tới với Chekhov trong gương mặt Olga Knipper cũng là khi sự sống của ông leo lắt tắt dần. Phổi liên tục bị nghẽn mạch. Tự bản thân là một bác sĩ, Chekhov không nuôi ảo tưởng gì về căn bệnh mà ông đã mắc phải.
Ông tự biết rõ mọi triệu chứng và tiến triển của nó. Và ông đã ngoan cường chống chọi, chịu đựng nó. Tới một thời điểm nào đó, ông gần như không thở được nữa, vợ ông tiêm cho ông moócphin để ông có thể thiếp đi vài giờ…
Ba ngày trước khi mất, Chekhov bỗng trở nên tỉnh táo và nói muốn mặc bộ y phục may bằng vải flanen trắng. Ông nhờ vợ tới thị trấn bên cạnh để đặt may. Vợ ông đã đi đặt may. Thật hạnh phúc khi ở bên ta có một người có thể thực hiện được mơ ước cuối cùng gần như rất trẻ con đó.
Chekhov nói với vị bác sĩ tới thăm bệnh cho ông rằng ông đang hấp hối. Để vị bác sĩ đó đỡ uổng công cứu chữa cho ông. Bác sĩ bảo mang tới cho ông một ly sâmpanh. Vợ ông về sau kể rằng ông "đã nở nụ cười rất kỳ lạ và nói: Lâu rồi tôi không uống sâmpanh... Rồi ông làm cạn cả ly sâmpanh và xoay người nằm sang bên trái rồi lặng lẽ ra đi vào cõi vĩnh hằng…
Chekhov qua đời khi mới 44 tuổi