Nói đến Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam (TNVN), có lẽ ít người Việt
Mẫu vật quý hiếm phơi giữa trời
Theo Quy hoạch tổng thể Hệ thống bảo tàng thiên nhiên ở Việt
Theo quyết định 86/2006/QĐ-TTg, đến năm 2006 về cơ bản Bảo tàng TNVN sẽ được xây dựng xong và đưa vào hoạt động để phục vụ công chúng. Bảo tàng TNVN là tổ chức sự nghiệp văn hóa - khoa học có chức năng nghiên cứu khoa học, sưu tầm, lưu giữ bảo quản và tổ chức trưng bày, giới thiệu các sưu tập vật mẫu và tư liệu về thiên nhiên Việt Nam, phục vụ phổ biến kiến thức, giáo dục, nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch. Thế nhưng, gần chục năm trôi qua, chúng ta đã có gì cho một bảo tàng cấp quốc gia này?
Xương cá voi “phơi” giữa trời.
Con đường dẫn tới "nơi ở trọ" của Bảo tàng TNVN trong khuôn viên của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (KH&CNVN) ở số 18 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội khá đặc biệt. Bên trái là hóa thạch thân cây với bán kính lớn, đặt trên bệ và có chú thích bằng 2 thứ tiếng Việt và tiếng Anh. Dưới rặng cây cổ thụ, những hiện vật quý hiếm được trưng ra la liệt. Cả dãy xương động vật lớn nằm dưới tán lá bốc mùi đặc trưng của xương lâu ngày.
Những chiếc xương đĩa đệm của cá voi được dựng lên vỉa gạch, các đoạn xương sống xếp liền kề xung quanh gốc cây. Bộ xương cá voi này được đưa về từ Huế cách đây hơn một năm mà vẫn chưa tìm được chỗ cất khá hơn. Cách đó vài mét, dưới mái hiên tòa nhà có biển đề "Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam" là một mẫu vật tê giác đứng sừng sững. Được biết đây là con tê giác được chuyển về từ Thảo cầm viên TPHCM. Để bảo quản, người ta phủ một lớp nilon, rồi đạy thêm lớp bạt bên ngoài. Bộ xương của chính con tê giác đó nằm chình ình trước lối vào mấy căn phòng bên trong. Bên ngoài, nó được phủ một lớp nilon, phía trong đặt máy hút ẩm chạy suốt ngày đêm.
Bước chân vào phòng làm việc của các cán bộ bảo tàng, tôi không khỏi bất ngờ bởi môi trường làm việc ở đây. Phòng làm việc cũng là kho cất giữ hiện vật, vừa là nơi để máy móc nghiên cứu, chật chội, ẩm thấp và sực mùi khó chịu của xương, da động vật.
Chị Nguyễn Thu Hường, cán bộ Phòng Chế tác vật mẫu và thiết kế trưng bày thấy tôi thắc mắc liền giải thích: "Làm mãi trong môi trường này rồi cũng quen". Căn phòng rộng nhất mà Bảo tàng TNVN được sở hữu tạm ở đây được dùng để chứa lượng mẫu vật lớn nhất mà bảo tàng hiện có. Căn phòng chỉ rộng chừng 20m2 đặt các loại mẫu vật lớn nhỏ, từ sư tử, hổ, bộ xương khỉ, xương rắn, các loại óc, xương động vật, chim chóc… Một máy lạnh cỡ lớn chạy liên tục để giữ cho các mẫu vật không bị hỏng, mốc.
Những căn phòng mà bảo tàng đang sử dụng này vốn mượn của Khu dự trữ mẫu Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật. Bởi vậy, gian phòng rộng nhất trong khu nhà này vẫn do Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật dùng để lưu trữ mẫu. Mới đây, Viện KH&CNVN đã bố trí cho Bảo tàng TNVN thêm một khu vực trong khuôn viên làm nơi làm việc và nghiên cứu cho các cán bộ bảo tàng.
PGS.TS Phạm Văn Lực, Giám đốc Bảo tàng TNVN chỉ cho tôi xem căn phòng đựng bộ sưu tập hơn 900 mẫu vật hóa thạch cổ sinh (từ khoảng 200 triệu năm trước) mà bảo tàng vừa mua được từ Đắk Lắk. Các mẫu vật được xếp hàng, đặt dưới nền đất gồm hóa thạch của cây và các loại động vật. Căn phòng chứa mẫu vật quý hiếm này được trông coi và khóa cẩn thận.
Ông Lực nâng niu từng mẫu vật, xót xa khi một số mẫu vật trong kho lưu trữ bị hỏng. Bảo tàng của ông cũng có khu vực riêng trong Viện, cũng có biển đề "Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam" đẹp đẽ, mang nhiều thông điệp, nhưng lại không có nơi trưng bày cho người dân tham quan, học sinh đến học tập. Tất cả chỉ gói gọi trong kho. Ấy thế mà, nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài lại biết đến những giá trị đang chứa đựng trong các nhà kho ấy để tìm đến.
Ngày tôi đến tìm hiểu về bảo tàng, tôi đã gặp anh Tsuyoshi Ito- nghiên cứu sinh người Nhật Bản đang công tác tại Viện nghiên cứu khỉ hầu của Đại học
"Đá bóng" loanh quanh
Quá trình thai nghén và cho ra đời Bảo tàng TNVN bắt đầu từ những năm cuối của thập kỷ 90. Viện KHCNVN (trước đây là Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia) được Chính phủ giao nhiệm vụ lập luận chứng kinh tế - kỹ thuật xây dựng Bảo tàng TNVN từ năm 1999. Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án xây dựng Bảo tàng TNVN tại Hà Nội đã được Thủ tướng Chính phủ thông qua ngày 25/9/2002. Việc xin đất cho dự án bảo tàng là khó khăn nhất làm chậm tiến độ xây dựng dự án. Hàng loạt thay đổi về vị trí cấp đất đã khiến cho bảo tàng ra đời mà không có chỗ đứng.
Mẫu vật xếp chồng chất trong nhà kho.
Trong suốt quá trình từ năm 2000 đến nay, Sở Quy hoạch Kiến trúc và UBND TP Hà Nội đã lần lượt giới thiệu và thay đổi 4 địa điểm khác nhau dự kiến sẽ cấp cho bảo tàng. Cụ thể, tháng 4/2000, Văn phòng Kiến trúc sư trưởng thành phố giới thiệu diện tích 6,7ha thuộc phường Xuân La, quận Tây Hồ. Với địa điểm này, Viện KH&CNVN đã hoàn thành thủ tục và được Sở Quy hoạch Kiến trúc cấp chỉ giới đường đỏ và số liệu kỹ thuật khu đất từ năm 2002. Nhưng đến năm 2006 khu đất đã bị chuyển cho dự án khác với lý do quỹ đất tại khu vực này đã hết, không đủ để mở rộng cho đủ 10ha như đề nghị của Viện.
Lần thứ hai, tháng 10/2006 bảo tàng lại được giới thiệu xây dựng trên diện tích khoảng 10ha thuộc xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm (tại một phần khu đất quy hoạch Công viên động vật bán hoang dã). Tuy nhiên, sau đó Viện lại nhận được thông báo diện tích đất trên nằm trong khu đất đã cấp cho Trung tâm Hội chợ triển lãm quốc gia. Do vậy, Sở Quy hoạch Kiến trúc lại giới thiệu cho bảo tàng địa điểm mới thuộc xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm.
Nhưng, khi thành phố còn chưa có ý kiến chấp thuận thì Sở Quy hoạch Kiến trúc lại cho biết khu vực trên cũng đã cấp hết đất cho các dự án khác nên tiếp tục giới thiệu địa điểm thuộc xã Ngọc Liệp, huyện Quốc Oai vào tháng 10/2008 với diện tích khoảng 20ha. Địa điểm này đã được UBND TP Hà Nội chấp thuận về nguyên tắc và giao Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Quy hoạch Kiến trúc, UBND huyện Quốc Oai hướng dẫn Viện KH&CNVN làm thủ tục thực hiện theo quy định. Bất ngờ thay, khi Bảo tàng TNVN làm việc với các cơ quan liên quan theo chỉ đạo thì được UBND huyện Quốc Oai thông báo: địa điểm xây dựng Bảo tàng TNVN do Sở Quy hoạch Kiến trúc đề xuất đã được Chủ tịch tỉnh Hà Tây (cũ) giao cho một công ty đầu tư nhà.
Trước tình hình trên, năm 2009 Viện KH&CNVN, Sở Quy hoạch Kiến trúc và Sở Kế hoạch Đầu tư đã có báo cáo bằng văn bản với UBND TP phương án giải quyết. Nhưng từ đó đến nay, Viện KH&CNVN vẫn chưa nhận được ý kiến giải quyết của thành phố. Điều đó có nghĩa là đã 10 năm trôi qua Bảo tàng TNVN vẫn chưa có đất để lập dự án trình Chính phủ.
Ai chịu trách nhiệm về sự chậm trễ?
Bảo tàng TNVN thuộc loại hình Bảo tàng Lịch sử tự nhiên, lần đầu tiên được Chính phủ cho phép xây dựng, làm một công trình kiến trúc vừa mang tính chất khoa học vừa mang tính chất văn hóa của cả nước. Theo kịch bản sơ bộ, cơ cấu thành phần bảo tàng sẽ gồm nhà trưng bày chính, các công trình kiến trúc phụ trợ và khu trưng bày ngoài trời. Khu trưng bày ngoài trời sẽ giới thiệu về các giá trị đặc sắc của thiên nhiên Việt Nam, công viên đá kỷ Jura, các tập đoàn thực vật, động vật, các hệ sinh thái điển hình của Việt Nam và thế giới…
Trong các kho lưu giữ mẫu vật của Bảo tàng TNVN hiện nay có hàng nghìn mẫu vật quý giá các loại. Nguồn thu thập mẫu vật của bảo tàng chủ yếu là từ các cơ quan Nhà nước thu được chứ chưa mua được các mẫu vật đặc biệt. Hiện nay mới chỉ có hai loại mẫu vật mua là bộ sưu tập hóa thạch cổ sinh mua của tư nhân Đắk Lắk và cá mặt trăng mua từ tỉnh Nghệ An.
PGS.TS Lực cho biết, Bảo tàng TNVN đang tăng cường công tác đào tạo cán bộ, hợp tác quốc tế để phát triển tiềm lực, thu thập vật mẫu trở thành mẫu vật chuẩn, tức là sẽ xây dựng lý lịch cho mẫu vật. Trong khi chờ TP cấp đất xây dựng, Bảo tàng TNVN đang xây dựng Phòng Tiến hóa sinh giới làm phòng trưng bày đầu tiên tại Viện KH&CNVN cho khách tham quan trong diện tích 400m2, số tiền đầu tư 15 tỷ đồng. Có thể coi phòng trưng bày mẫu này là một bảo tàng mi ni, dự kiến sẽ mở cửa vào năm 2012. Còn với quy mô và tính chất hiện nay, Bảo tàng TNVN chỉ phục vụ cho công tác nghiên cứu, tìm hiểu của các nhà khoa học chứ chưa phục vụ được công chúng.
Sự chậm trễ trong quá trình xây dựng Bảo tàng TNVN do thiếu một quyết định kịp thời và chính xác của UBND TP Hà Nội cùng các cơ quan liên quan. Những mẫu vật cần có công chúng và cần được thể hiện giá trị của nó. Bảo tàng cũng sẽ là nơi giáo dục đào tạo cho các thế hệ học sinh về lịch sử tự nhiên, về hình thành trái đất hay bài học về trôi dạt lục địa…
Bài học từ thực tế sẽ hiệu quả hơn nhiều so với những con chữ khô khan trên sách vở. Bởi vậy, các cơ quan chức năng của Hà Nội cần có quyết sách kịp thời để tránh lãng phí thời gian, lãng phí giá trị của mẫu vật hiện có để làm nơi tham quan, nghiên cứu và học tập cho công dân Việt Nam, chứ không chỉ làm điểm nghiên cứu cho các nhà khoa học nước ngoài