Tháng 10 vừa rồi ra Hà Nội, có nhà báo trẻ nói với tôi định xin gặp Tô Hoài đặt bài Tết. Nhưng cô rất ngại vì theo một bạn viết lão thành nói: "Ông Tô Hoài rất lạnh nhạt, khó tính, ông ấy không muốn tiếp chuyện đâu!". Bạn trẻ ơi, bạn đã nhầm về nhà văn lớn của chúng ta rồi!
1. Tôi nói rằng: "Bác Tô Hoài rất ít thì giờ, vì bác thấy thời gian đối với bác quý lắm, bác không muốn xã giao và làm quen tràn lan. Cái "chính là để viết, viết và viết" chính thế bác mới có cả tủ tác phẩm đồ sộ hàng trăm cuốn sách vừa truyện dài, truyện ngắn, vừa tạp văn, vừa hồi ký, tự truyện, phê bình văn học… Tháng 10/2011 này bác còn điện thoại cho tôi bác vẫn đang viết bài Tết.
Chơi với bác lâu ngày tôi càng học tập, quý bác. Bác đảm nhận nhiều nhiệm vụ quan trọng. Gần đây tuổi cao bác xin nghỉ. Từ việc lớn đến việc nhỏ như đại diện tổ dân phố (trước kia); đến chủ đề tài nghiên cứu văn học cấp nhà nước. Việc gì bác cũng hoàn thành với trách nhiệm rất cao. Bác có vẻ như nhạt nhẽo với mọi người, nhưng thực ra rất sôi nổi và trẻ trung. Tô Hoài không ưa xã giao vớ vẩn, bác bảo tôi:
- Ông Minh Tuấn này! (Bác hay gọi tôi là Minh Tuấn vì bác gọi như thế vui hơn: kiểu như gọi Minh Tơ, Minh Vượng… vậy)! Mình không thích quen thêm một người nào, khi cần thì mình tự đến, nhất là các bạn viết trẻ mình rất quý! Đọc của ai cái gì dù dở, hay mình cũng tranh thủ ghi chép và có nhận xét ngay, thường thì nâng đỡ yêu quý các cây viết trẻ.
Trên căn gác xép vừa là phòng ngủ vừa là phòng làm việc: mấy kệ sách gỗ tạp, sách nhiều, kệ đã võng xuống. Một chiếc bàn con thấp, một ghế dựa và một giường cá nhân. Khi viết mệt, suy tư thì ngồi dựa trên ghế, mệt nữa thì nằm dài. Bác là cây bút chuyên nghiệp có thể sống về nghề viết văn. Mỗi khi có "lộc" lại chiêu đãi bạn bè. Anh em trong giới cần thì bác chi viện một cách vô tư "không hoàn lại".
Lúc đầu tập kết ra Hà Nội tôi không dám gần bác, mà qua nhà văn Nguyễn Tuân, tôi hay theo "điếu đóm" cho cụ nên Nguyễn Tuân giới thiệu. Rồi dần dà "năng mưa thì nước năng đầy" bác càng thương mến tôi. Tôi cũng lếu láo tháp tùng với bác đi đó đi đây từ biên giới đến làng quê, công trường, xí nghiệp… Tô Hoài không những viết khỏe mà đi cũng khỏe. Không vậy làm sao có ngòi bút cường tráng và ưu ái cuộc đời đến thế!
Có một lần vào mùa xuân năm 1979 Campuchia giải phóng đánh đuổi bọn Pôn Pốt. Bác và tôi được một công ty giao thông cầu đường mời đi Campuchia. Họ cho chúng tôi một chiếc xe tã quá. Xe chở anh chị em công nhân làm đường. Tôi bàn với bác: Hay ta từ chối vậy! Nhưng Tô Hoài bảo: Cứ đi, các anh chị là người làm đường, lao động chính, ta là lao động phụ, ăn theo, sao lại đòi hỏi! Vì mình chỉ đi để viết thôi mà!". Tôi có ý định đổi xe khác, ít nhất là Commăngca. Bác bảo thôi, đừng quấy rầy… Sang Côm-pông-chàm mới hay ý đồ của công ty, vì đi bằng Commăngca sang trọng dễ bị tàn quân Pôn Pốt phục kích… Hiểu "âm mưu" của công ty cầu đường muốn bảo vệ Tô Hoài, nhưng lúc đầu không dám nói ra, vì nói ra, lúc hành quân sẽ làm khách lo ngại?
Tô Hoài sống giản dị và chân tình. Một nhà văn lớn cỡ Tô Hoài, sự nghiệp văn chương dẫu tôi có cả vài vạn từ cũng chẳng thêm được cái gì, chỉ có một lần nhà thơ Xuân Diệu cùng đi Vĩnh Linh với tôi trong những ngày của chiến tranh hạn chế "vùng cán soong" đã nói với tôi: "Cung cách của Tô Hoài là cung cách của nhà văn lớn - mặc dầu ông Xuân Diệu thường ít khen ai, lớn thì phải có tác phẩm nhiều, tất nhiên cả về số lượng và chất lượng. Tô Hoài đạt cả hai tiêu chuẩn đó! Có người viết rất giỏi nhưng chưa lớn, vì tác phẩm quá ít. Có thể đó là nhà văn tài hoa, nhà văn nổi tiếng nhưng chưa gọi là lớn. Còn Nguyễn Tuân thì bảo: "Tô Hoài là một con người có ý chí mạnh mẽ, đã viết cái gì thì không chịu bỏ dở, viết kỳ được mới thôi. Xem ra tác phẩm của anh ta tính theo đầu sách thì nhất nước đấy!".
Bây giờ mùa xuân này nên trở lại chuyện cô nhà báo trẻ H.N.. Thế rồi đêm ấy ở khách sạn gần đường Hai Bà Trưng - Hà Nội, tôi gọi dây nói xin ý kiến Tô Hoài giúp H.N.. Bên kia dây nói:
- Nhà mình đang sửa chữa, vôi vữa đầy nhà không tiện tiếp khách miền
2. Có một lần ở nước ngoài, tình cờ tôi và Tô Hoài gặp nhau. Tháng giêng năm ấy trời đầy tuyết trắng. Vào đầu xuân Quý Hợi (1983) tôi đi làm phim ở Bratislava về Liên Xô, còn bác Tô Hoài họp hội nghị các nhà văn Á Phi từ Alger; hai anh em tình cờ gặp nhau ở ga bay Matxcơva, khi chuyển máy bay về Hà Nội.
Trên chuyến bay của Hãng hàng không Aero-Phơlốt IL86 vừa thử đường bay Nội Bài. Đến Taskent là thủ đô của
Taskent - một sân bay đồ sộ miền Trung Á - cầu hàng không tiếp tế cho Afghanistan, cho cả vùng Iraq, Iran và các nước Đông Dương - nhộn nhịp lạ thường, cứ vài ba phút là có máy bay lên xuống, ầm ầm vang động suốt đêm ngày. Chao ôi! Tết nhất sắp qua rồi mà chúng tôi vẫn lang thang "đất khách quê người". Tôi cũng từng ăn Tết ở Trường Sơn thời chống Mỹ, nhưng đó là nhiệm vụ chiến đấu, còn đây phải ăn chực, nằm chờ ở hải ngoại… Hai anh em vẫn uống cognac, cụng ly chào Xuân. Các quan chức ngoại giao Tây có, ta có của nhiều nước đi máy bay, các nhà báo, các thương gia… cùng đi trên chuyến bay trắc trở này phát tức vì "ghen". Máy bay không cất cánh được mà chúng tôi vẫn cười vui và uống rượu tì tì. Có cậu nhà báo Thổ Nhĩ Kỳ tên là Hanurit nói tiếng Pháp ngồi cạnh tôi ngạc nhiên hỏi:
- Các vị mua vé hạng nhất à?
- Đâu có!
- Thế sao các vị có rượu uống?
Tôi đưa chai Ararat ra mời:
- Tết dân tộc của chúng tôi mà, các bạn Nga tặng. Nếu giờ này về nhà rồi thì tưng bừng hơn… xin mời bạn.
Anh bạn Thổ Nhĩ Kỳ hiểu ra, cười vui và chúc mừng Tết của chúng tôi, nhưng anh bạn lại thắc mắc:
- Ácmêni - nước Cộng hòa của Liên bang Xô viết (cũ) dùng nhãn hiệu Ararat là không ổn đâu. Thấy tôi hơi khó hiểu, anh giải thích thêm - vì Ararat là dãy núi biên giới chung của hai nước Thổ Nhĩ Kỳ và Ácmêni. Một anh bạn Franxoa người Pháp gốc Phi châu xen vào nói đùa vui:
- Vậy cớ sao mặt trăng là chung của nhân loại, Turquie (Thổ Nhĩ Kỳ) các anh lấy làm biểu trưng trên lá cờ của mình. Bộ các anh muốn "bành trướng" à?
Thế là mọi người ngồi đợi máy bay cất cánh lại cười vui, quên bớt nhọc nhằn. Tôi đang bí đề tài Tết này cho báo Tết, thì mới đây nhà văn Tô Hoài photo cho tôi một đoạn ghi chép sổ tay ngày trước ở Taskent:
"Vào chỗ đợi ở máy bay - lù lù gặp Đoàn Minh Tuấn. Sự lạ diệu kỳ! IL86 có 300 chỗ ngồi, chỉ có hơn 100 người đi. Bay đúng giờ ở Moscou: 5 giờ, tới Taskent 8 giờ tối. Lên nghỉ rồi xuống đi, máy bay bò ra lại lùi vào, báo lại trục trặc không đi được".
Bữa ấy chúng tôi mang quà Tết về nhà nên hành lý của Tô Hoài có nặng thêm năm, ba cân. Nếu phải trả thì có đến 50 rúp. Cô Rima và Inia ra tiễn nói thế nào ấy: cô cân hành lý nói nhà văn thừa vài cân bản thảo, thôi không tính thêm cước làm gì! Tô Hoài hôn Rima hai lần, trả ơn việc giảm cước phí. (Đoạn nhật ký ngày Tết ở Taskent trên Tô Hoài ghi chú là tư liệu "bán" cho tôi để viết bài Tết) và ghi chép của Tô Hoài còn ghi: "Cả đêm ngồi vớ vẩn trên phòng đợi. Hết rượu rồi, mua không có - vì chưa tới giờ bán - Đêm Taskent nhớ lại những chuyến đi trước, xa lắm rồi. Đêm ở khách sạn chính phủ nghe gà gáy phía này. Thế là ở lại sân đợi. Ăn cả hai bữa. Mua được vài trăm gam Vôska - tiêu chuẩn hai người. Vì lúc bấy giờ ở Nga cấm rượu. Họ bảo tối nay, 10 giờ 40 bay được. Nhưng rồi phải đến sáng sau".
Cũng may là Tết xa nhà "tha hương ngộ cố tri" chứ không thì biết làm gì cho hết thời gian chờ đợi. Hành khách đều phản ứng, cho nên hãng hàng không phải đưa khách vào thành phố, ai muốn nghỉ khách sạn thì nghỉ, ai muốn tham quan, mua sắm thì đi. Bác Tô Hoài đã ở đây rồi, nên chỉ mình tôi đi thăm thú các thắng cảnh và di tích quanh quẩn gần thủ đô. Đây là một thành phố mới, mới hoàn toàn. Sau trận động đất cách đó vài thập niên gần như chỉ còn gạch vụn. Cả 15 nước cộng hòa của Liên Xô lúc ấy dồn sức người, sức của xây dựng lại. Cho nên nhà cửa, trụ sở lâu đài đồ sộ hơn, đường sá rộng rãi thẳng tắp đầy cây xanh.
Mùa xuân các công viên hoa, cỏ mơn mởn. Tôi dừng lại ở một cửa hàng bách hóa gần công viên, tuyết vẫn mơ màng bay ngập cả lối đi, tranh thủ còn ít đồng rúp mua rượu sâm, nhung, phô mát, nho khô… về làm quà Tết. Mua cho bác Nguyễn Tuân được chai Ararat - giá tiền bằng mua một chiếc quạt tai voi và một bàn là - thế là về nhà các bạn nói vui: Tết này bác Nguyễn uống một cái quạt nhắm với bàn là Liên Xô vào bụng rồi đó!
Đi dạo trên phố Taskent mùa xuân mường tượng như mình đang đi kề miệng núi lửa và các dòng nham thạch chảy ngọ nguậy dưới chân. Vẫn có ấn tượng trận động đất mùa xuân năm nào.
3. Hôm sau lại lên máy bay. Đã có bia và rượu, với lại có chai rượu sâm dự trữ, nên không lo gì nữa. Những tưởng máy bay sẽ dừng lại ở Carachi (Pakistan) như mọi khi, nào ngờ lại về Tân Đêli (New Dhéli) Ấn Độ, có lẽ do thời tiết, hay ốc - vít máy bay trục trặc mà cô nàng tóc bạch kim khổng lồ "ngúng nguẩy" không như dự định của chuyến bay lúc ban đầu.
Ôi, Tết tha phương trên dặm dài, lữ thứ, càng nhớ nước, nhớ nhà như thơ của Bà Huyện Thanh Quan:
"Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia"
Tôi và bác Tô Hoài lại lai rai và chuyện trò trong cơn say ngây ngất mùa xuân, máy bay đến Nội Bài lúc nào không hay biết… và xa xa phía Bắc Ninh, Đình Bảng tiếng trống hội hè đầu xuân vọng lại trong cảnh đầm ấm ở quê nhà.
Hôm ở Matxcơva Tô Hoài tâm sự với tôi:
"Ngày trước còn trẻ mình là tỷ phú về thời gian, nay mình tiết kiệm từng đồng xu nhỏ". Vì thế, ông có cả một pho tác phẩm đồ sộ gấp đôi tuổi đời mình, hơn một trăm sáu mươi tác phẩm vừa truyện dài, truyện ngắn, bút ký, tạp văn, tự truyện, phê bình văn học… Chưa nhà văn nào trên đất nước ta có sự nghiệp trước tác đồ sộ như vậy! Ông là con ong thợ cần cù gây mật; là trai biển ứa máu ra kết thành ngọc cho đời. Từ cuốn sách tiêu biểu "Dế mèn phiêu lưu ký" đến cuốn tiểu thuyết lịch sử mới đây "Quê nhà" viết về Cao Bá Quát.
Hơn 60 năm cầm bút, nhà văn Tô Hoài đã hiến dâng cho nền văn học nước nhà những tác phẩm để đời. Trước Cách mạng Tháng 8, ông vừa viết văn vừa tham gia các phong trào hoạt động xã hội. Thời kỳ tiền khởi nghĩa, Tô Hoài sớm gia nhập Hội văn hóa cứu quốc, viết báo bí mật, tuyên truyền cách mạng.
Dù giữ nhiệm vụ quan trọng như đại biểu Quốc hội, lãnh đạo văn nghệ, tham luận nghị trường hoặc khi bàn bạc công việc ở tổ dân phố, đều đầy trách nhiệm. Bên ngoài, ông có vẻ nhạt nhẽo với mọi người, nhưng kỳ thực, tâm hồn ông rất sôi nổi và trẻ trung. Ông thường bảo: "Đối với bạn viết, bạn đọc trẻ mình sẵn sàng nói chuyện cả ngày".
Đi tàu xe, ở khách sạn, xuống đồng ruộng, đâu đâu ông cũng lật sổ tay ghi chép, không bao giờ phí thì giờ. Nhiều khi tiếp khách quốc tế, bác thường rủ tôi ngồi chung, bác khen tôi là văn võ song toàn.
Cuộc đời của Tô Hoài, có thể nói, gắn bó với Hà Nội từ thuở thiếu niên cho đến bây giờ. Quá cửu tuần, còn viết truyện tình "Chiếc áo xường xám" và hồi ký "Chiều chiều". Xin chúc nhà văn Tô Hoài sức khỏe để còn hiến dâng cho đời tâm huyết của mình với văn học.
Mới đây 10/2011, tôi được bác điện thoại chúc tôi lên lão. Bác đọc báo thấy Nguyễn Quang Sáng chủ trì buổi hội thảo về tôi mùa xuân này, bác chúc tôi viết khỏe và sức khỏe như rồng