Thực tế, khái niệm “bỏ phiếu tín nhiệm” tuy chưa được áp dụng trong thực tiễn nhưng đã được khẳng định tại Hiến pháp và pháp luật. Khoản 7, Điều 84 Hiến pháp quy định, Quốc hội có nhiệm vụ, quyền hạn “bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn”. Để thực hiện quyền hiến định này, Điều 12, Luật Tổ chức Quốc hội đã quy định: Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. UBTVQH xem xét trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn khi có kiến nghị của ít nhất 20% tổng số đại biểu Quốc hội hoặc kiến nghị của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội.
Được quy định rõ trong Hiến pháp và cụ thể hoá tại Luật Tổ chức Quốc hội, tuy nhiên vấn đề này chưa được áp dụng trong thực tế do nội dung mang tính “quy định cứng”, thiếu khả thi. Cụ thể, không thể có được tỷ lệ 20% đại biểu Quốc hội (tương đương 100 đại biểu) cùng kiến nghị Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với cá nhân nào đó, cũng như do tính chất hoạt động của Ủy ban, khó có thể trình Quốc hội thực hiện quyền năng nói trên. Cho tới phiên họp UBTVQH vừa qua, lần đầu tiên nội dung này được trình bày tại một đề án và nhấn mạnh việc áp dụng các quy định đảm bảo tính khả thi: bỏ phiếu tín nhiệm hằng năm.
Chức danh do Quốc hội bầu bao gồm: Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội; Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên UBTVQH, Viện trưởng Viện KSND tối cao, Chánh án TAND tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước. Chức danh do Quốc hội phê chuẩn gồm Phó Thủ tướng và các thành viên Chính phủ (Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ).
Như vậy, về cơ sở pháp lý, việc bỏ phiếu tín nhiệm đã được khẳng định trong Hiến pháp và pháp luật, việc trình đề án lần này là cụ thể hoá hoạt động trong chức năng giám sát tối cao của Quốc hội. Nhìn nhận khách quan, đây là nội dung cho thấy sự cần thiết tổ chức thực hiện trong tiến trình dân chủ xã hội. Bỏ phiếu tín nhiệm giúp các chức danh do Quốc hội bầu, phê chuẩn thực hiện tốt hơn chức trách của mình, mở rộng ra áp dụng ở địa phương với các chức danh do HĐND bầu, phê chuẩn. Người có tín nhiệm cao càng có động lực hoạt động.
Tuy nhiên, như đã trình bày, đây là vấn đề mới, nội hàm cho thấy rõ sự nhạy cảm, đụng chạm đến danh dự, lợi ích, uy tín của cá nhân người được bỏ phiếu tín nhiệm (trong trường hợp người đó không được tín nhiệm). Đặc điểm văn hoá người Việt cũng chưa phải đã thích nghi với phương thức này. Hơn nữa, cần phải tính toán trong phương thức, cách thức tiến hành làm sao đảm bảo chính xác, khách quan bởi người bỏ phiếu tín nhiệm có thể mang cảm tính hoặc quyết định từ cảm nhận trực quan... Chưa kể các tác động có thể mang tính động cơ cá nhân khi bỏ phiếu…
Do đó, để việc bỏ phiếu tín nhiệm được hiệu quả, đòi hỏi cách làm khoa học, chặt chẽ và thận trọng