Nghị quyết số 12/2011 của Quốc hội quy định “không bổ sung mới danh mục, dự án, công trình sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2011-2015”. Theo nghị quyết này, chỉ những công trình, dự án được quy định tại Nghị quyết 881 năm 2010 và 40 dự án được bổ sung năm 2011 mới tiếp tục được sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ. Đối với từng ngành, lĩnh vực bố trí đủ số vốn còn thiếu của chương trình kiên cố hóa trường lớp học và nhà công vụ cho giáo viên theo Quyết định số 2168/QĐ-TTg; bố trí vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2012-2015 các dự án bệnh viện tuyến huyện theo số vốn còn thiếu tại Quyết định số 47/2008/QĐ-TTG… Về trật tự ưu tiên phân bổ vốn, ưu tiên bố trí vốn hoàn thành các công trình, dự án nằm trong Quyết định 171, trừ những công trình, dự án chưa khởi công hoặc đã khởi công nhưng thời gian thi công kéo dài hơn quy định của pháp luật; đặc biệt cần tập trung ưu tiên cho các dự án tái định cư thủy điện Sơn La, Lai Châu; các dự án ở vùng sâu, vùng xa…
Nghị quyết và các nguyên tắc sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ đã thể hiện rõ như vậy, thế nhưng chỉ ít tháng sau khi Nghị quyết số 12 của Quốc hội được thi hành, nhiều địa phương lại tiếp tục đôn đáo gõ cửa cơ quan chức năng “xin” thêm dự án từ trái phiếu. Lý do để xin bổ sung rất nhiều, nhưng xem ra ngành, địa phương nào cũng tỏ rõ sự cấp thiết: tỉnh xin làm đường nói đường đã xuống cấp, không đầu tư thì đi lại khổ sở; tỉnh xin dự án kênh mương kêu mùa hạn sắp đến, ruộng đồng đã khô lắm rồi; tỉnh xin làm cầu cũng có lý do nghe rất êm: hai xã cách có tiếng gọi đò mà không thể có cầu bắc nhịp…
Nơi nào cũng kêu khó, lý do xem ra thấu cả, nhưng nguồn vốn trái phiếu rất có hạn (225 nghìn tỷ đồng cho cả giai đoạn 2011-2015). Ngay cả khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã giảm bỏ khá nhiều và chốt lại gần chục dự án cầu đường, bệnh viện cùng 5.500 tỷ cho dự án thủy lợi, thì nguồn vốn bổ sung cũng đã lên cả chục nghìn tỷ đồng.
Điều này khiến việc thẩm tra của ủy ban Tài chính, Ngân sách cũng như khi đưa ra thảo luận tại Thường vụ Quốc hội, đặt các đại biểu ở thế khó khăn khi chốt phương án. Chưa kể, tất cả dự án bổ sung thì Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính cũng đã cân nhắc, thẩm định để Chính phủ trình UBTV Quốc hội, nay không lẽ bị gác ở “cửa” cơ quan thẩm tra?
Chẳng hạn, 4 dự án: xây dựng cầu Năm Căn, Cà Mau đề nghị bổ sung 649 tỷ đồng; dự án cầu Kim Xuyên, Tuyên Quang đề nghị bổ sung 291 tỷ đồng; dự án xây dựng nhà ở cho sinh viên Đại học Trà Vinh bổ sung 320 tỷ đồng; dự án bệnh viện ung thư Đà Nẵng thêm 221,9 tỷ đồng, tất cả đều được trình bày “đặc biệt quan trọng”.
Đối với 5 dự án thành phần thuộc dự án đường ven biển Ninh Thuận cũng xin thêm gần 1.000 tỷ; dự án thủy lợi Ngàn Trươi, Hà Tĩnh thiếu tới 7.871 tỷ; dự án đường kết nối giữa đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình với QL1A cũng xin hơn 1.500 tỷ đồng, tất cả đều được nói “rất cần thiết”. Bỏ dự án nào xem ra không dễ.
Đối với các dự án xin bổ sung, cấp vốn thêm thì đã có từ trước 2011, tức trước lúc Nghị quyết ban hành. Vậy tại sao các dự án đó không đưa vào bổ sung từ trước mà tới nay lại xin thêm? Theo tiền lệ đó, từ nay đến 2015 còn bao nhiêu lần tiếp tục xin bổ sung?
Vấn đề đặt ra là: Nghị quyết của Quốc hội – cơ quan quyền lực tối cao, vừa ban hành được nửa năm lại không được thực thi nghiêm túc. Nghị quyết quy định rõ “không bổ sung mới danh mục, dự án, công trình sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2011-2015”, nay xin bổ sung chỗ này, mai thêm chỗ khác. Một Nghị quyết của cơ quan tối cao mà vừa ban hành đã thực hiện “chệch” như vậy, thì giá trị pháp lý của Nghị quyết đặt ra thế nào?