Sự phân hóa trong chỉ số tín nhiệm các chức danh
Tương tự như tại Quốc hội, kết quả lấy phiếu tín nhiệm tại HĐND tuy khác nhau về con người và số phiếu cụ thể, song cơ bản giống nhau ở thành phần, tỷ lệ. Đó là số phiếu “tín nhiệm thấp” thường rơi nhiều vào mảng hành pháp (Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND, Giám đốc các sở, ngành), trong đó có một số tỉnh, Chủ tịch UBND “đội sổ” về phiếu tín nhiệm thấp. Nhiều giám đốc sở cũng có tỷ lệ tín nhiệm thấp khá cao.
Trong khi đó, các chức danh HĐND như Chủ tịch, Phó Chủ tịch, các ban trực thuộc thường áp đảo số phiếu tín nhiệm cao. Một số tỉnh, Chủ tịch HĐND dẫn đầu phiếu tín nhiệm cao tuyệt đối, không có tín nhiệm thấp.
Theo Nghị quyết Quốc hội, căn cứ đánh giá mức độ tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn gồm: kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Việc phiếu tín nhiệm thấp rơi vào các chức danh hành pháp, tư pháp do nhiều yếu tố, trước hết chính những cá nhân đó còn các tồn tại, hạn chế về kết quả thực hiện nhiệm vụ và đạo đức, lối sống. Những người trong quá trình thực hiện nhiệm vụ “dính” đến các đơn thư khiếu nại, tố cáo về các hành vi vi phạm, tiêu cực… thường ảnh hưởng đến kết quả lấy phiếu.
Một mặt, việc các chức danh hành pháp có phiếu tín nhiệm thấp nhiều hơn do lĩnh vực này số lượng công việc lớn, trong quá trình làm việc tất xảy ra nhiều đụng chạm, nhất là những mảng liên quan trực tiếp quyền lợi người dân, doanh nghiệp. Điều này khiến nhiều Chủ tịch UBND, Giám đốc Sở khi lấy phiếu thường “đội sổ” về tín nhiệm thấp so với chức danh bên HĐND. Tuy nhiên, có địa phương Chủ tịch UBND lại dẫn đầu về số phiếu tín nhiệm cao, trong khi phía HĐND chỉ “bén” sau.
Điều đó cho thấy không thể đổ lỗi hoàn toàn cho việc “làm nhiều, sai nhiều, tín nhiệm thấp nhiều” mà nếu ở vị trí lãnh đạo, điều hành thể hiện được năng lực, trình độ, đạo đức thì các vị trí Chủ tịch, Giám đốc Sở cũng dễ khẳng định được tín nhiệm cao trong đại biểu, cử tri.
Tính đặc thù ở địa phương và ý nghĩa cảnh tỉnh, răn đe
Việc lấy phiếu ở cấp địa phương có những điểm đặc thù so với tại Quốc hội. Đó là phạm vi hoạt động của Quốc hội khắp cả nước, số người được lấy phiếu theo quy định lên tới 49 chức danh, số đại biểu bỏ phiếu gần 500. Trong khi đó, phạm vi của HĐND giới hạn trong địa bàn, số lượng đại biểu thường chỉ dăm bảy chục người (so với 500 như Quốc hội). Số lượng lấy phiếu thường không quá 20 người. Do đó, giữa những người được lấy phiếu với đại biểu bỏ phiếu hầu hết đều có các mối quan hệ hiểu biết lẫn nhau.
Đại biểu khi bỏ phiếu về thành viên nào đó, họ đã nắm bắt được khá nhiều thông tin trong quá trình làm việc tại địa phương chứ không phụ thuộc nhiều vào bản báo cáo hay hoạt động tại HĐND, kể cả dư luận xã hội. Việc nắm rõ nhiều thông tin giúp các đại biểu có căn cứ, cơ sở vững chắc hơn khi đánh dấu lá phiếu, tránh được tình trạng “võ đoán”.
Tuy nhiên, đặc điểm này cũng bộc lộ hạn chế, đó là do phạm vi địa phương hạn hẹp nên có thể bị ràng buộc bởi các mối quan hệ tình cảm, nể nang nhau. Điều đó có thể dẫn tới sự yêu – ghét lẫn nhau tác động phần nào đến lá phiếu, nhất là trong trường hợp việc lấy phiếu bị ảnh hưởng bởi văn hóa cục bộ địa phương trong quan hệ xã hội.
Theo dõi kết quả lấy phiếu tín nhiệm tại các địa phương cho thấy, trong số các cuộc lấy phiếu tín nhiệm ở cấp tỉnh, chưa có vị nào có số phiếu tín nhiệm thấp vượt quá bán dẫn đến việc tiếp tục xử lý, nhưng việc phân hóa số phiếu tín nhiệm 3 mức rõ rệt hơn. Việc chưa ai có phiếu tín nhiệm thấp quá bán, tức chưa rơi vào “vùng nguy hiểm” để thực hiện các bước tiếp theo, song những chỉ số tín nhiệm ở từng người cũng đã có tác dụng răn đe, cảnh tỉnh rõ rệt.
Những người có nhiều phiếu tín nhiệm thấp tự soi lại mình, kiểm điểm những khiếm khuyết, tồn tại, trong khi người có nhiều phiếu tín nhiệm cao cũng lấy đó làm động lực để phấn đấu tốt hơn. Ý nghĩa thức tỉnh trong phê bình, tự phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” được thể hiện rõ rệt trong tiến trình lấy phiếu tín nhiệm ở chỗ này.
Nên điều chỉnh từ 3 loại thành 2 loại
Tuy nhiên, từ kết quả lấy phiếu tín nhiệm tại Quốc hội và HĐND các địa phương cũng cho thấy những vấn đề cần được điều chỉnh. Chúng ta thừa nhận rằng, việc lấy phiếu chủ yếu có tác dụng răn đe, cảnh tỉnh, đó là điều cần thiết. Đây là năm đầu tiên thực hiện nên việc không có ai bị tín nhiệm thấp quá bán để phải xử lý các bước tiếp theo cũng là điều chấp nhận được. Nhưng về lâu dài, khi việc lấy phiếu diễn ra thường niên, nếu ở tất cả các địa phương năm nào cũng đều tín nhiệm cao, không ai quá bán tín nhiệm thấp thì liệu việc lấy phiếu còn nhiều ý nghĩa?
Nếu coi việc lấy phiếu là chỉ số đo tín nhiệm thì cũng giống như kỳ thi, đã thi ắt phải có người đỗ, kẻ trượt. Thi mà năm nào, ở đâu cũng đỗ 100% thì kỳ thi đó còn ý nghĩa? Hơn nữa, khi Nghị quyết Trung ương 4 xác định tình trạng cán bộ, đảng viên tha hóa, biến chất, nhũng nhiễu, tiêu cực là “bộ phận không nhỏ”, mà việc lấy phiếu không có ai tín nhiệm thấp quá bán, tức không tìm ra ai trong bộ phận không nhỏ được cho là tha hóa, biến chất, thì cách thức tiến hành tất chưa hợp lý.
Nguyên nhân việc các địa phương không ai tín nhiệm thấp quá bán, dù thực tế có những người quá trình làm việc có các biểu hiện gây bức xúc dư luận, vi phạm. Đó có thể do các yếu tố khác chi phối bởi như phân tích trên, phạm vi địa phương hẹp nên các mối quan hệ có thể bị ảnh hưởng, tác động. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất như đánh giá của các đại biểu, đó là cần sửa lại quy định ba mức phiếu (tín nhiệm cao, tín nhiệm, tín nhiệm thấp) về còn hai mức (tín nhiệm, không tín nhiệm).
Việc để ba mức như nêu trên gây loãng khi lấy phiếu và nhiều người chọn cách trung dung “tín nhiệm” thay cho đánh giá cao, thấp. Việc đưa về hai mức tín nhiệm – không tín nhiệm cũng là cách làm khoa học, đảm bảo tính chính xác cao hơn rất nhiều. Chắc chắn khi điều chỉnh theo cách này, việc lấy phiếu tại Quốc hội và HĐND các cấp sẽ có thay đổi