Số mộc bản khác được lưu giữ ở chùa Từ Đàm, Bảo Quốc, Viên Thông… và một số tư gia. Điều đáng nói ở đây là do tác động thời tiết khắc nghiệt, sự thiếu quan tâm của cơ quan chức năng hay do khó khăn về kinh phí, sự thiếu hiểu biết mà hàng ngàn mộc bản ở Huế đang dần bị hư hại, mối mọt, thất lạc.
Đặc biệt, trong tổng số 1.030 trang của 174 mộc bản (14 mộc bản 1 mặt và 160 mộc bản 2 mặt khắc bộ Vĩ Dạ hợp tập, thu thập đầy đủ văn thơ của Tuy Lý Vương, nhà thơ nổi tiếng thời cận đại, đã bị thất truyền 362 trang… Nhiều mộc bản khác đang bị đe doạ bởi mối mọt. Trong lúc đó thì, cả cơ quan chức năng, các nhà chuyên môn lẫn chủ sở hữu mộc bản đang lúng túng về việc tìm ra giải pháp tốt nhất cho việc bảo quản, gìn giữ và phát huy giá trị của chúng.
Ông Nguyễn Phước Vĩnh Khánh, Phó ban Chủ sự phủ Tuy Lý Vương, cho biết, một số bảo tàng, trung tâm lưu trữ đã đặt vấn đề với Ban, xin tiếp nhận số mộc bản đang lưu giữ ở phủ để bảo quản và phát huy giá trị. Nhưng đối với phủ, những mộc bản được xem như là bảo vật của gia đình, dòng họ, là nơi để các con cháu tự hào, mỗi khi lui tới, chính vì vậy, không thể mang vào cất ở Trung tâm lưu trữ được.
Ông Khánh cho biết thêm, còn khá nhiều mộc bản nằm trong một số nhà dân mà ít ai biết đến, việc dịch thuật và nghiên cứu nó vì nhiều lý do nên chưa một ai làm trọn vẹn và khai thác hết giá trị. Chính vì vậy, theo ông Khánh cơ quan chức năng cần phải tiến hành các cuộc khảo cứu, điền dã nhằm có hướng bảo tồn di sản này.
Đồng tình với ý kiến trên, Nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan nhìn nhận: Việc một số chủ sở hữu tiến hành hệ thống hoá các mộc bản "của mình" như Phủ Tuy Lý Vương và một số chùa ở Huế là điều đáng mừng. Mặc dù vậy, còn không ít tư gia hoặc chưa ý thức được giá trị, hoặc còn sắp xếp một cách lộn xộn, không có hệ thống và đặc biệt, còn xem nhẹ công tác bảo quản, điều này làm cho các mộc bản rất dễ bị hư hại.
Theo bà Phạm Thị Huệ, Giám đốc Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV tại Đà Lạt, việc bảo quản mộc bản phục vụ công tác nghiên cứu là rất cần thiết. Vì vậy, Ban chủ sự các phủ đệ nên chuyển mộc bản ở phủ thờ vào Trung tâm lưu trữ Quốc gia, bằng các hình thức như hiến tặng, gửi hẳn, hoặc ký gửi để được bảo quản một cách chuyên nghiệp như đã tiến hành bảo quản mộc bản Triều Nguyễn tại Trung tâm.
Nhìn nhận ở một góc độ khác, ông Huỳnh Đình Kết, Giám đốc Nhà bảo tàng Huế, nói: Để bảo tồn một cách bền vững số mộc bản không đơn thuần là tư liệu gốc mà còn là tài liệu có giá trị nghệ thuật sâu sắc, thì, ngành Văn hoá, các ngành chức năng về khoa học lịch sử, thư viện cần phải có kế hoạch lâu dài và cụ thể. Ngoài ra, việc tổ chức làm mộc bản từ âm bản (chữ ngược) sang dương bản (chữ xuôi) để mọi người có thể đọc được dễ dàng, biết được những mộc bản đó nói gì là điều rất cần thiết lúc này.
Giải pháp nào là đúng nhất để vừa hợp tình vừa hợp lý để gìn giữ, bảo quản tốt số mộc bản, cũng như phát huy được giá trị của nó? Phải chăng, cần có một cuộc hội thảo khoa học giữa các nhà chuyên môn bàn về vấn đề văn hoá hết sức quan trọng này!?