Đây cũng là hành động vi phạm Tuyên bố về cách ứng xử các bên ở Biển Đông (DOC) được ký giữa Trung Quốc với các nước ASEAN năm 2002 và không tôn trọng những cam kết mà lãnh đạo cao cấp hai nước Việt Nam - Trung Quốc đã nhiều lần khẳng định, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, an toàn hàng hải trên biển Đông liên quan đến lợi ích các nước Đông Nam Á và thế giới.
Những tưởng phía Trung Quốc hiển nhiên phải thấy được điều đó để chỉnh sửa hành vi cho đúng quỹ đạo pháp lý mà họ đang đi chệch. Ấy thế mà qua cách phát ngôn, thông tin của họ lại khiến tất cả phải đặt dấu hỏi về sự ngụy biện những điều đã thuộc về chân lý và pháp lý. Chỉ một ngày sau khi Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức họp báo quốc tế về vụ việc trên thì Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng làm một cuộc họp báo cùng chủ đề. Lẽ thường, đứng trước hành động xâm phạm nguy hiểm như vậy, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cần nhìn thẳng vấn đề để cải sửa, thế nhưng các phóng viên báo chí quốc tế đã không tìm thấy điều ấy ở cuộc họp báo của Bộ Ngoại giao Trung Quốc khi bao trùm lên cả vẫn chỉ là sự ngụy biện cái gọi là “chủ quyền của Trung Quốc ở biển Đông”. Đến 10/5, khi Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (AMM) ra Tuyên bố về về tình hình biển Đông, bày tỏ sự quan ngại sâu sắc về các vụ việc hiện nay ở biển Đông đã làm gia tăng căng thẳng ở khu vực; yêu cầu các bên phải tuân thủ luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982... thì sau đó ít giờ, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã ra thông báo bày tỏ thái độ về vấn đề này.
Đáng nói, thay cho việc nhìn thẳng sự thật lại là những nội dung úp mở và thoái thác trách nhiệm của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Doanh khi cho rằng “một số nước đã lợi dụng vấn đề Biển Đông để chia rẽ đại cục hợp tác hữu nghị giữa Trung Quốc với ASEAN". Những hành động của Trung Quốc còn cho thấy sự đánh lận hết sức nguy hiểm diễn biến sự việc như vu cáo tàu Việt Nam “đâm tàu Trung Quốc”, dù hình ảnh và clip quay thực tế đều cho thấy điều ngược lại.
Tại sao Trung Quốc vi phạm luật pháp quốc tế, xâm phạm chủ quyền vùng đặc quyền kinh tế của nước khác rồi lại ngang nhiên đánh lận, ngụy biện như trên? Lịch sử cho thấy, các thế lực xâm lược, gây chiến bao giờ cũng cố gắng biện minh cho hành động của họ bằng những mục đích tỏ ra “cao cả”. Đầu thế kỷ XIX, Napoleon giải thích việc đánh chiếm châu Âu bằng nỗ lực thống nhất châu lục dưới quyền cai trị của mình để vĩnh viễn chấm dứt chia rẽ và chiến tranh. Thế kỷ XX, Hitler biện minh chính sách hiếu chiến bằng sự cần thiết mở rộng không gian sinh tồn của dân tộc Đức. Cũng giai đoạn đó, phát xít Nhật ngụy biện cho hành động chiến tranh xâm lược với phương châm xây dựng một khu vực cộng đồng đại thịnh vượng và giải thoát các dân tộc châu Á khỏi ách thống trị của thực dân Âu - Mỹ... Như vậy, bất luận cuộc xung đột nào, bên phi nghĩa cũng có sự ngụy biện cho hành động của mình để tỏ ra... đúng đắn. Nhưng chân lý là sự thực khách quan, đường ray sự thật chỉ có một, nó chỉ có thể bị đánh lận ở góc độ nào đó, bị khuất lấp phương diện nào đó, còn hiện thực theo quy luật phải trả về đúng nghĩa của nó.
Cộng đồng quốc tế đã đồng loạt lên tiếng, phản ứng bởi họ đã nhận rõ sự thật khách quan ở đây là gì, nó cũng cho thấy điệp khúc đánh lận cái gọi là “chủ quyền” ở biển Đông của Trung Quốc đã không thể lòe mị được thế giới. Hành động xâm phạm chủ quyền đối với vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam lần này chính là sự lấn tới từ các vi phạm trước đây như vẽ “đường lưỡi bò” trên biển Đông, cắt dây cáp thăm dò dầu khí của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, ra các lệnh cấm, bắt tàu đánh cá Việt Nam… Đó là kịch bản, ý đồ lấn chiếm biển Đông mà Trung Quốc đang “dàn trận” thực hiện. Việc kéo dàn khoan khổng lồ với hơn 80 tàu hộ tống, tàu hộ vệ tên lửa, tàu tuần tiễu tấn công nhanh cùng hàng chục máy bay chiến đấu, dùng vòi rồng đẩy đuổi tàu Cảnh sát biển, Kiểm ngư Việt Nam và cố tình kéo bạt để lộ dàn vũ khí... là hành động hăm dọa hết sức nguy hiểm, gây bất an lớn cho toàn khu vực ASEAN.
Đối thoại hòa bình, dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế để giải quyết các tranh chấp, xung đột là cách hành xử văn minh mà nhân loại cũng như bất kỳ quốc gia dân tộc nào đều ưu tiên lựa chọn. Đối với Việt Nam, từ truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm qua hàng nghìn năm lịch sử, lòng yêu hòa bình, yêu nước càng được hun đúc trong tâm khảm mỗi người Việt Nam. Chúng ta muốn hòa bình, muốn ổn định, các biện pháp giải quyết xung đột luôn lấy biện pháp chính trị, ngoại giao là ưu tiên, dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế và các bằng chứng pháp lý về chủ quyền biển đảo. Ông Dị Tiên Lương, Vụ trưởng Vụ Biên giới và Hải đảo, Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói: “Kênh trao đổi giữa hai nước (Việt Nam - Trung Quốc) là thông suốt. Kể từ khi xảy ra vụ việc đến nay, hai bên đã tiến hành 14 lần trao đổi. Trung Quốc mong muốn cùng phía Việt Nam thông qua trao đổi để giải quyết tình hình hiện nay”.
Việt Nam mong muốn phía Trung Quốc nói và hành động đúng với thiện chí đối thoại ấy. Nhưng khát vọng hòa bình đòi hỏi sự thiện chí của hai bên, khát vọng hòa bình không thể dùng tàu chiến, tàu hộ vệ tên lửa, máy bay chiến đấu ra hăm dọa như cách mà Trung Quốc đang áp dụng trong sự kiện trên. Phó Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam Ngô Ngọc Thu khẳng định tại cuộc họp báo quốc tế về việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép trong vùng biển Việt Nam rằng, lực lượng Cảnh sát biển và lực lượng Kiểm ngư hết sức kiên trì và kiềm chế, tiếp tục bám trụ và giải quyết mọi việc trên biển. “Nhưng mọi sự chịu đựng đều có giới hạn. Nếu tiếp tục đâm vào chúng tôi thì chúng tôi cũng có những tự vệ tương tự để đáp lại” - ông Thu khẳng định.
Trong lịch sử, Việt Nam rất tôn trọng và làm hết sức mình để xây đắp quan hệ hòa hiếu với Trung Quốc, coi đó là đường lối chiến lược giữa hai nước. Nhưng lịch sử cũng chỉ ra rằng, dân tộc Việt Nam không bao giờ chịu lùi bước trước mọi hành động xâm phạm đến chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và kiên quyết đấu tranh bảo vệ những quyền thiêng liêng đó của dân tộc. Khi chủ quyền đất nước bị xâm hại, Việt Nam buộc phải có hành động tự vệ để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ sự tôn nghiêm chủ quyền quốc gia, quyền được sống trong hoà bình