Quê hương đất mỏ chúng tôi vinh hạnh được 3 lần đăng cai hội diễn chèo toàn quốc. Hôm khai mạc Hội diễn Chèo chuyên nghiệp 2009 tại TP Hạ Long, bà Nhữ Thị Hồng Liên - Phó Chủ tịch UBND tỉnh có nói: "Đến hẹn lại lên, lần thứ tư tỉnh Quảng Ninh lại xin nồng ấm đón các bạn...". Như vậy, có thể đến lần thứ tư, Quảng Ninh lại được đăng cai hội diễn? Riêng tôi, tôi ao ước Hội diễn chèo lại về với Hạ Long, duyên ấy biết đâu Hạ Long sẽ trở thành "Kinh đô" chèo?
Tôi đi tìm câu hỏi: Tại sao người Quảng Ninh lại thích chèo như vậy? Qua hội diễn này, nhất là sau đêm diễn "Danh chiếm bảng vàng" của Đoàn chèo Bắc Giang, thì tôi đã tìm được câu trả lời. Một đêm diễn ấn tượng, nhà hát chật hết chỗ ngồi. Phải kê ghế phụ, có người ngồi bệt ở đường đi. Im phăng phắc, nín thở theo dõi câu chuyện kịch, những tiếng vỗ tay, tiếng suỵt soạt, tặc lưỡi, trầm trồ.
Được biết, thành phần giám khảo năm nay là những cây "đại thụ" của sân khấu chèo Việt Nam. Thậm chí có những người được mệnh danh là "tín đồ" của sân khấu chèo truyền thống và bảo vệ đến cùng sự tồn tại, phát triển của môn nghệ thuật chèo. Riêng có một trường hợp ngoại lệ - đạo diễn NSND Lê Hùng là dân Kịch nói, cũng "tròn xoe" đôi kính cận dầy cộp và "hồn nhiên như chiếc lá" cười sung sướng thích thú.
Thú nhất là gặp được kịch bản hay. Một câu chuyện thấm đậm tính nhân văn, hình thức thể hiện rất chèo. Chuyện cũ nhưng lại mang hơi thở những bức xúc của thời đại. Đó là sự gian lận trong thi cử, trong quan trường, sự đổi trắng thay đen trong tình cảm con người, là khí phách phẩm tiết của sĩ phu, nghĩa tình son sắt vợ chồng. Chân lý, ngay thẳng dù bị vùi dập vẫn chiến thắng cái đen tối, phi nghĩa. Kịch bản viết khéo cho đến phút chót, khi nhân vật chính bỏ râu, tháo mũ, khán giả mới "òa" lên thán phục. Văn chương, lời thoại trong vở kịch của Trần Đình Ngôn đạt đến sự mẫu mực.
Một tiết mục của Đoàn chèo Bắc Giang
Thứ hai là đạo diễn kỹ đến từng "chân tơ kẽ tóc". Tôi để ý lớp 4 diễn viên quần chúng họ "xiến" hình tròn quanh nhân vật chính, cũng thấy đủ sự nghiêm túc công phu đến mức nào. Đạo diễn phân đúng vai và như thầy "phù thủy" điều khiển, hướng dẫn nghệ sĩ đi đúng "đường" của lộ trình tâm lý nhân vật. Khai thác tới cùng ngóc ngách của các nhân vật. Vui ra vui, buồn ra buồn, ác ra ác, thiện ra thiện.Âm nhạc nghe như tiếng rì rào của đồng lúa, thấy ngọt ngào của bờ tre giếng nước. Các bài hát rất hiện đại, "điệu nghệ" nhưng lại rất chèo, nhạc nền tạo được cớ cho diễn viên diễn xuất và lời ca đến mức độ "thăng hoa".
Nhạc sỹ Đăng Toàn dù học ở Nhạc viện Quốc gia Paris, anh vẫn giữ được hồn và cốt cách của gốc chèo cổ, thêm vào đó, trang trí sân khâu đẹp, hoành tráng nhưng không cầu kỳ, có những sắc màu của dân dã đồng quê, nhưng lại có trang trọng của phủ chúa, quan vua nơi quan trường.
Cuối cùng là diễn viên, mọi nhân vật chính thứ đều hoàn thành xuất sắc vai diễn của mình. Có nhiều vai gây ấn tượng với lối diễn rất mộc mạc, chân thành và nồng nàn. Bùi Trọng Đang, Chu Văn Thức, Thanh Quý (Quý bôn), Lưu Nga, Minh Huệ, Kim Liên, Như Hoa, Khắc Tư và gần đây là Quốc Anh... họ biết gắn chặt tiếng hát với hoàn cảnh, số phận nhân vật. Cô Thanh Chắc, NSƯT Đoàn chèo Quảng Ninh là người hát hay có tiếng ở đất mỏ cũng phải tấm tắc: "Nghệ sĩ chèo Bắc Giang hát hay thật".
Biết mình là một đơn vị chèo địa phương, họ vẫn thầm lặng khiêm tốn học hỏi. Các nghệ sĩ: Hà Văn Quân, Phạm Quỳnh Mai, Văn Được, Vũ Ngọc Anh, Quang Lãm, Xuân Hải, Thanh Hường, Anh Tuấn, Văn Công, Mai Lan, Tuấn Anh... và nhiều quần chúng lớp trẻ, "tre già măng mọc" đã tạo nên một đêm chèo "bất ngờ" ở Hội diễn Chèo 2009