Quốc lễ, mang tính dân gian
Những ngày này, dư luận đặc biệt quan tâm đến vấn đề Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, bởi đang là dịp giỗ Tổ Hùng Vương, chúng ta lại đang khẩn trương hoàn tất hồ sơ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương để UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Điều này không chỉ mang ý nghĩa bảo tồn, phát huy giá trị di sản, mà còn khẳng định tư tưởng hướng về cội nguồn với tinh thần đoàn kết của mỗi người Việt Nam.
Tính độc đáo của Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là không thể phủ nhận. PGS.TS. Trương Quốc Bình (Viện VHNT Việt Nam) khẳng định: "Trải qua hàng nghìn năm, tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên ở Việt Nam được phát triển thành tín ngưỡng thờ Quốc Tổ, là hiện tượng độc nhất trên thế giới.”
Việc Thờ cúng Hùng Vương không phân biệt huyết thống, vùng miền, dân tộc, là điều cốt lõi làm nên giá trị vĩnh hằng của văn hóa cộng đồng Việt Nam, làm nên sức mạnh đoàn kết quốc gia dân tộc.
Theo các nhà nghiên cứu, Tín ngưỡng Hùng Vương cũng trở thành điểm nhấn trong giao thoa, kết tinh nhiều nét văn hóa khác nhau với bản sắc riêng, tạo thành một hiện tượng văn hóa độc đáo của người Việt. Bởi vậy, việc đệ trình Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương lên UNESCO giúp người Việt nhận thức sâu sắc thêm về sức sống di sản, thông điệp về tư tưởng cội nguồn, đồng thời, nâng cao ý thức tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và sự sáng tạo của người Việt.
Trảy hội đền Hùng.
Tuy nhiên, trước những khuyến nghị của UNESCO về mối quan hệ giữa cộng đồng và Nhà nước, các nhà nghiên cứu vẫn băn khoăn, bàn bạc.
GS. Lê Văn Lan nêu quan điểm: Cần quan tâm làm rõ dân chúng đang thực hành tín ngưỡng Hùng Vương như thế nào, chứ không phải Nhà nước can thiệp vào.
Còn nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng không thể không “Nhà nước hóa” việc thực hành tín ngưỡng vì mang tầm Quốc gia. Khuyến nghị của UNESCO là điều rất quan trọng, nhưng yếu tố gốc của nó cũng phải được tăng cường, nên cần điều chỉnh lại những gì đã vượt quá giới hạn, để bảo đảm vừa là quốc lễ vừa mang tính dân gian.
GS. Ngô Đức Thịnh.