Đến Khu tập thể C5 - phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân, Hà Nội - hỏi tên ông Niệm, không ai không biết. Tên của ông đã trở nên thân quen đối với mỗi người dân trong tổ dân phố. Gặp ông, dễ nhận thấy ở ông có một điểm đặc biệt là vừa có nét giản dị của người Hà Nội, vừa hồn hậu tính người miền biển, lại đượm cái chất phác của người vùng cao. Vầng trán rộng, nước da nâu, đôi mắt sáng, giọng nói sang sảng đã làm cho cái tuổi 84 của ông trở nên trẻ hơn, nhanh nhẹn hơn.
Vừa tiếp phóng viên, ông vừa tất bật bên đứa chắt nội hiếu động. Dù đã biết khá rõ về ông nhưng qua cuộc nói chuyện ngắn ngủi ấy, lòng tôi vẫn không thôi dấy lên niềm cảm mến và kính phục một người cán bộ mẫu mực, đã có nhiều cống hiến với cuộc đấu tranh giữ nước, nhiều cống hiến với miền núi - vùng cao - biên giới Tây Bắc.
Người hết lòng vì đồng bào dân tộc vùng cao
Sinh ra trong một gia đình trung nông tại Thạch Sơn - Thạch Hà - Hà Tĩnh những năm đầu thế kỷ XX, chứng kiến cảnh bọn cường hào địa phương bắt sưu thuế, bóc lột, đánh đập dân làng, người thanh niên trẻ Nguyễn Niệm thời ấy đã có lòng yêu quê hương đất nước, thương người dân đói khổ phải chịu nhiều tầng áp bức, từ đó sớm giác ngộ cách mạng.
Năm 17 tuổi, ông đã trở thành Phó Bí thư Thanh niên cứu quốc phản đế và Tự vệ cứu quốc xã, năm 18 tuổi là Chủ nhiệm Việt Minh xã và Thư ký Ủy ban lâm thời Cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông là cán bộ Khu ủy Tây Bắc lo việc của Tổng cục Hậu cần phục vụ các chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Thượng Lào, Tây Bắc, Điện Biên Phủ, Hòa Bình… Sau khi các chiến dịch kết thúc, ông được Trung ương điều động về khu ủy Tây Bắc. Đã từng tốt nghiệp Đại học Tài chính, ông trở thành Giám đốc Tài chính, Giám đốc Ngân hàng Kiến thiết Khu Tự trị Thái -Mèo.
Từ một người con của vùng quê miền Trung mặn mòi nắng gió, gần 50 năm nặng lòng với miền đất Tây Bắc, ông Niệm đã trở thành người anh em gắn bó máu thịt với đồng bào dân tộc vùng cao, miền núi. Vượt qua những rào cản về ngôn ngữ, phong tục tập quán, ông hòa mình vào cuộc sống của đồng bào để hiểu được cái nết ăn ở, hiểu được tâm tư nguyện vọng và cả những khó khăn, thiếu thốn, lạc hậu của đồng bào; từ đó góp phần tích cực đưa những chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân vùng cao, miền núi. Tại Khu Tự trị Thái - Mèo, ông đã tiến hành cải cách dân chủ vùng dân tộc, kết hợp với xây dựng chính quyền và xây dựng Đảng, giữ vững chủ quyền biên giới vùng Tây Bắc, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc.
Sau khi Khu Tự trị Thái - Mèo giải thể theo Nghị quyết của Quốc hội khóa V, ông Niệm được phân bổ về tỉnh Lai Châu làm Trưởng ty Tài chính, rồi trở thành Phó Bí thư Tỉnh ủy kiêm Phó Chủ tịch UBND tỉnh. Ông tiếp tục dành được sự tín nhiệm bầu vào các chức danh Bí thư Tỉnh ủy Lai Châu 4 khóa liền, được bầu là Ủy viên Trung ương Đảng khóa VI và VII, Đại biểu quốc hội khóa VI và VII, Ủy viên Kinh tế ngân sách Quốc hội khóa VII. Nhiều năm sau đó, ông được điều động là Đặc phái viên của Bộ Chính trị và Chính phủ theo dõi vùng dân tộc, miền núi.
Trong suốt những năm tháng giữ nhiều trọng trách đó, ông không ngừng tìm tòi, sáng tạo, chủ động vận dụng chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước phù hợp với thực tiễn địa phương để đưa một tỉnh miền núi nghèo, trình độ dân trí thấp từng bước phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng.
Ngay từ ngày tái lập tỉnh, ông đã coi trọng phát triển giao thông thủy lợi và chỉ đạo lĩnh vực này phải đi trước một bước làm tiền đề cho các lĩnh vực khác phát triển. Vì vậy, từ chỗ tỉnh Lai Châu cũ chỉ có một con đường Pha Đin về đến thị xã Mường Lay dài 105km, ông đã cho thi công trên 500km tỉnh lộ, quốc lộ gồm các đường Mường Tè, Tủa Chùa, Sình Hồ, vùng cao Điện Biên Phủ... Trong sản xuất nông lâm nghiệp, ông chú trọng tới thâm canh tăng vụ, khai hoang, luân canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, xác định giữ vững và phát huy trọng điểm lúa Điện Biên, Tuần Giáo, Bình Lư, Phong Thổ… Nhờ vậy, từ một tỉnh thiếu lương thực triền miên, hằng năm Nhà nước phải đưa gạo lên từ 5 nghìn đến 1 vạn tấn, tỉnh đã tự túc được lương thực, nhiều năm đạt bình quân lương thực 400kg/người/năm, có phần dự trữ cung cấp gạo ra ngoài tỉnh và xuất khẩu gạo sang nước bạn Lào.
Bên cạnh đó, ông Niệm cũng chỉ đạo việc hình thành các vùng sản xuất cây công nghiệp dài ngày và ngắn ngày với quy mô nhỏ như vùng sản xuất chè, cà phê, đậu tương, dược liệu…, góp phần nâng cao đời sống cho đồng bào các dân tộc ít người như Mông, Dao, Xá… Về chính sách văn hóa xã hội, suốt những năm gắn bó với Tây Bắc, ông Niệm đã coi trọng sự nghiệp giáo dục miền núi, xóa nạn mù chữ, cho mở nhiều trường dân lập nội trú, đưa con em đồng bào dân tộc vào những năm 90 của thế kỷ trước lên 7 vạn người đi học.
Một điều đặc biệt mà mỗi khi nhắc tới ông, người dân Lai Châu không thể không nhớ tới, đó là việc ông đã mạnh dạn đưa ra và thực hiện chủ trương chuyển thị xã Lai Châu về Điện Biên vào những năm 1991. Đây là một chủ trương đúng đắn, thể hiện một tầm nhìn xa đầy tính chiến lược, phát huy những thuận lợi của tỉnh về thương nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp, trong đó có cả những yếu tố thuận lợi cho xây dựng thủy điện Sơn La. Nhưng lúc bấy giờ, không phải ai cũng đồng lòng về chủ trương di dời thị xã của ông vì có quá nhiều khó khăn. Do vậy, để thực thi được chủ trương mang tầm vĩ mô này, ông đã phải đối mặt với vô vàn thách thức.
Được hỏi về những động lực giúp ông vượt qua thời điểm khó khăn đó, ông cười: "Nhiều năm gắn bó với Mường Lay, với Ho Luông, Bản Mo, Lay Nưa, Lay Tở…, lúc ấy cũng xót xa lắm khi phải nghĩ tới việc di dời thị xã. Trước đây, đối mặt với kẻ thù, lúc khó khăn thì có dân nuôi mình, che giấu mình. Kẻ thù mình nhìn thấy mặt để đối phó. Còn bấy giờ, dân trông vào mình, trông vào những quyết sách đúng đắn. Biết đó là việc có lợi cho dân, cho đất nước, mình phải làm!".
Một bí thư chi bộ được dân tin yêu
Năm 1999, sau khi nghỉ hưu, ông Niệm chuyển về sinh hoạt Đảng ở Chi bộ C4-5, phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Sau 2 tháng tham gia sinh hoạt, thực hiện tốt nhiệm vụ của chi bộ phân công, ông được toàn thể chi bộ nhất trí bầu là Bí thư chi bộ.
Những ngày ông mới tham gia sinh hoạt, tổ dân phố C4-5 còn nhiều khó khăn: Quản lý đô thị, lấn chiếm đất có nhiều bất cập, hệ thống nước sinh hoạt và nước phế thải gây ô nhiễm môi trường nhiều năm, người dân bất bình phàn nàn làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của chi bộ.
Ông Niệm đã không ngại khó khăn, phức tạp, cùng các đồng chí trong chi ủy, tổ trưởng dân phố, các đoàn thể trao đổi, thống nhất ý kiến, từng bước tháo gỡ khó khăn, cải thiện các điều kiện và môi trường sống cho nhân dân. Ông còn bỏ tiền tạm ứng trước để cải tạo hệ thống nước cho khu dân cư, gương mẫu đóng góp các loại quỹ xã hội, quỹ từ thiện do các đoàn thể, tổ dân phố vận động với mức cao hơn mọi người.
Ông quan niệm: Phải thật sự coi trọng ý kiến của nhân dân; không độc đoán, bảo thủ; làm việc phải cởi mở, vô tư, thành thật, giải quyết công việc trên cơ sở lợi ích chung; trước hết, bản thân phải luôn luôn gương mẫu. Bởi vậy, trong suốt 10 năm làm Bí thư chi bộ, ông Niệm đã cùng chi ủy và các đồng chí trong chi bộ luôn tạo được sự đoàn kết, thống nhất, xây dựng cộng đồng dân cư hòa thuận, ổn định: Số hộ đạt Gia đình văn hóa trên 85%; không có vụ việc vi phạm về hình sự, tệ nạn xã hội, vi phạm nếp sống văn minh đô thị; việc hiếu hỉ được tổ chức gọn nhẹ, tiết kiệm, lành mạnh; 100% các gia đình hoàn thành tốt nghĩa vụ công dân, tích cực tham gia các hoạt động của địa phương.
Ông tâm sự: "Có lẽ phần thưởng lớn lao hơn đối với tôi chính là sự tin yêu, kính trọng và tình cảm chân thành mà các đồng chí và bà con trong tổ dân phố C4-5 đã dành cho tôi".
Mấy chục năm qua, từ khi còn ở những cương vị lãnh đạo cho đến khi nghỉ hưu, ông vẫn giữ một lối sống mẫu mực, liêm khiết. Khó ai trong Chi bộ C4-5 có thể quên được hình ảnh người Bí thư chi bộ đi dép quai hậu quân nhu bằng nhựa Tiền Phong với bộ quần áo bộ đội đã sờn bạc. Ngôi nhà ông hiện ở cũng chỉ là một căn hộ tập thể nhỏ, đồ đạc không nhiều và thật giản dị, thứ gắn bó với ông nhất là chiếc ấm chè xanh và chiếc radio cũ kỹ.
Biết là ông không giận, tôi hỏi vui: "Đã từng là Giám đốc Tài chính, Giám đốc Ngân hàng Kiến Thiết Khu Tự trị Thái - Mèo, bao nhiêu năm là Bí thư một tỉnh, đất đai rộng nhất nhì toàn quốc, sao ông không xây cho mình một ngôi nhà rộng rãi, khang trang và thật tiện nghi?". Ông trả lời: "Đó mới là lúc con người trong sạch nhất!". Câu nói thật ngắn gọn khiến tôi phải suy nghĩ; thấy tin tưởng một lớp thế hệ cán bộ như ông.
Thấy tôi nhìn lên tấm Huân chương Độc lập hạng Nhất, ông mỉm cười giải thích: "Đó là tài sản lớn nhất của tôi đấy. Tôi không có đất ở quê Hà Tĩnh, tôi cũng không có trang trại ở một tỉnh rộng lớn Lai Châu, tài sản vô giá của tôi là tấm Huân chương mà Đảng, Nhà nước tặng tôi. Tôi coi đó là của gia bảo để con cháu họ Nguyễn viết tiếp chương lịch sử dòng họ mình".