Có thể nói các cuộc thi truyện ngắn của Báo Văn nghệ; Văn nghệ quân đội và giải Cây bút vàng của Văn nghệ Công an luôn là tâm điểm chú ý của đông đảo bạn đọc và là cuộc thử sức của tất cả các cây bút chuyên và không chuyên, đã thành danh và chưa thành danh cả trong và ngoài nước.
Hai tác giả trong lực lượng Công an dự thi và đoạt giải lần này là Phan Đình Minh và Nguyễn Đăng An. Có thể bạn đọc đã biết đến một giọng văn thâm trầm đau đáu với làng quê, với những phút trầm ngâm trước phố của nhà văn Phan Đình Minh qua các truyện ngắn: Tiếng đàn và vỏ ốc; Ra phố; Gió đắng sân chùa; Gió dưới giàn thiên lý; Rắng bể tối rừng; Đừng phôn cho em... và đặc biệt là truyện ngắn Mùa hoa liễu quế hương đã đoạt giải ở cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ quân đội năm 2006.
Cuộc thi lần này gặp lại một Phan Đình Minh đằm lắng, xa xót cho những thân phận người lính trước, trong và sau cuộc chiến tranh, những người lính đã hy sinh và những người may mắn trở về sau cuộc chiến. Có hạnh phúc, dằn vặt và thức tỉnh... về lại với Suối nguồn cũng là về lại với chính cái tâm thiện của mình để khắc phục nỗi đau chiến tranh, dù đã quá muộn, dù đất nước đã được giải phóng gần bốn mươi năm.
Một lần nữa nhà văn muốn đưa đến cho bạn đọc một thông điệp là hãy sống bằng chính cái tâm thiện của mình, vì bất cứ một sự đội lốt nào không sớm thì muộn cũng đều bị vạch trần. Lần này anh trình làng 2 truyện ngắn là: Phần mềm và Suối nguồn, cả 2 truyện đã đem đến cho bạn đọc ít nhiều ngỡ ngàng về sự tươi mới trong cách kể, cách dẫn chuyện và cách cài đặt các chi tiết “đinh”.
Mấy năm gần đây, bạn đọc biết đến Nguyễn Đăng An với tư cánh là một nhà báo khi anh liên tục xuất hiện trên các ấn phẩm của Báo Công an nhân dân với hàng loạt bài bút ký, phóng sự với những tư liệu “độc” và lập luận sắc bén như: Bùi Tín tuổi xế chiều ở Pari hay phóng sự dài kỳ: Lời tự sự của cô gái nhiễm HIV… nhưng ít ai biết rằng cách đây hơn hai mươi năm đã là tác giả tập truyện ngắn Thiên Nga lạc bầy.
Ngày đó đọc anh, bạn đọc thấy được sự hăm hở của người viết lần đầu xuất hiện trên văn đàn, muốn xới tung lên mọi chuyện, muốn viết khác lạ trong cái thời buổi thị trường đang chi phối mọi hoạt động của con người không loại trừ lĩnh vực sáng tạo văn chương. Sau tập sách ấy, bẵng đi hai mươi năm, do công việc đặc thù, hay nói khác đi là do số phận đưa đẩy, Nguyễn Đăng An phải gác bút văn chương để viết những bài chính luận sắc sảo, đầy lý tính. Ngoại lục tuần anh lại cầm bút để viết văn chương, viết bằng cảm xúc thật của người trong cuộc để giãi bày và chia sẻ với người khác những trăn trở của mình.
Đọc trong truyện ngắn Nguyễn Đăng An những câu chuyện về những nỗi đau có thật của con người trên cõi trần gian này, dù ở trên đất nước mình hay ở những chân trời xa xôi nào đó bên trời Tây. Anh đã đi hàng nghìn dặm trên những nẻo đường châu Âu, châu Á với tư cách một phóng viên quốc tế. Anh đã gặp gỡ với rất nhiều người thuộc các màu da, quốc tịch, văn hoá và cả chế độ chính trị rất khác nhau.
Anh đã từng tiếp cận các nguyên thủ quốc gia cũng như gần gũi những thường dân nơi mình đặt chân đến. Anh đã tiếp cận những người có quyền cao chức trọng cũng như chia sẻ với những người nghèo khổ nhất hành tinh… Nhưng tất thảy con người ta giống nhau ở nỗi khổ và khác nhau ở niềm hạnh phúc. Là bởi nỗi khổ thì có thể sẻ chia còn hạnh phúc thì ai ai cũng cố nắm giữ thật chặt cho riêng mình. Trong cuộc thi này, Nguyễn Đăng An trình làng cũng 2 truyện ngắn: Lời thề chân lý và Người đàn bà ở bến đợi xe thành Rôm.
Hai truyện ngắn được thể hiện với hai phong cách và hai bút pháp khác nhau nhưng đọc hai truyện ngắn vẫn thấy sự xa xót của những phận người, đặc biệt là những người đàn bà khi các cuộc chiến tranh đã đi qua. Họ có thể có những cuộc sống riêng, những tính cách riêng nhưng đều có chung một nỗi đau, đó là nỗi đau chung của thời hậu chiến. Cuộc thi đã khép lại và giải thưởng đã được trao, nhưng dư âm của nó, nói đúng hơn là ánh hồi quang của những truyện ngắn được giải lần này còn toả sáng lâu dài trên văn đàn