Nhiều ý kiến khác nhau về việc thừa nhận tập quán hôn nhân của một số dân tộc
Một vấn đề được nhiều đại biểu quan tâm thảo luận là giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật và tập quán lâu đời của một số dân tộc. Nhiều ý kiến đã đồng tình quy định áp dụng tập quán tốt đẹp trong luật để phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam nhưng vẫn đảm bảo thực hiện luật. Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến đóng góp là nên cân nhắc, nếu ghi như vậy thì các điều kiện, các nguyên tắc và thẩm quyền công nhận các tập quán tốt đẹp trong từng cộng đồng dân tộc, trong từng vùng, miền, địa phương như thế nào cho thống nhất với luật.
Đại biểu Nguyễn Ngọc Phương, Quảng Bình đề nghị nên bỏ điểm 2 trong Điều 6 về tập quán, vì nếu để điều này thì sẽ làm khó cho Chính phủ và sẽ làm cho luật chậm ban hành, trong lúc đó thì tập quán không thể thay thế được luật. Mặt khác, cần trả lời câu hỏi như thế nào là một tập quán tốt? Chính vì thế, trong Điểm 1 chúng ta thừa nhận là tôn trọng các tập quán tốt đẹp và những tập quán sau đây thì được ứng dụng vào luật.
“Tôi thống nhất với điểm a đó là những điều mà luật pháp không quy định, các bên tự nguyện thỏa thuận theo tập quán thì chúng ta xử theo tập quán, những điều pháp luật quy định nhưng các bên vẫn thực hiện thỏa thuận theo tập quán, nhưng không trái luật thì chúng ta vẫn chấp nhận. Ví dụ, tập quán cướp vợ nhưng cứ đủ tuổi để cướp thì mình theo tập quán là đúng luật thì chúng ta tuân thủ”, ông nói.
Đại biểu Nguyễn Văn Tuyết, Bà Rịa - Vũng Tàu ngược lại không nhất trí với điểm b, khoản 1, Điều 6, vì với quy định này sẽ không bảo đảm được tinh thần "thượng tôn pháp luật" và trái với Bộ luật dân sự và áp dụng thì nó sẽ tùy nghi và không bảo đảm được quyền của phụ nữ và trẻ em. Đây cũng là quan điểm của đại biểu Phạm Đức Châu, Quảng Trị, vì 54 dân tộc anh em có tập quán phong phú, đa dạng nhưng áp dụng pháp luật giống nhau.
Hơn nữa không thể áp dụng một quy phạm tập quán để giải quyết một quan hệ pháp luật, nhất là khi đã có quy phạm pháp luật điều chỉnh.
Bổ sung quy định về thỏa thuận tài sản trước khi kết hôn
Liên quan đến quy định về tài sản của vợ chồng sau khi ly hôn, “tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, công sức đóng góp của mỗi bên trong việc tạo lập, duy trì phát triển tài sản này, lao động của vợ chồng trong gia đình được coi như là lao động có thu nhập" – đại biểu Trương Thị Thu Trang (Tiền Giang) cho rằng quy định như vậy sẽ vướng mắc khi xác định trường hợp để chia đôi tài sản và trường hợp chia tài sản theo công sức đóng góp.
Đại biểu Trang cho rằng không nên chia tài sản căn cứ vào công sức đóng góp, bởi tài sản chung của vợ, chồng thuộc sở hữu chung, hợp nhất, về nguyên tắc không phân biệt được tài sản nào là của vợ, tài sản nào là của chồng, do đó chỉ xác định một nguyên tắc là chia đôi.
Liên quan đến thỏa thuận về tài sản trước khi kết hôn, đại biểu Hồ Thị Thủy, Vĩnh Phúc nhất trí bổ sung chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận. “Việc quy định như vậy trước hết đảm bảo được quyền tự định đoạt của cá nhân đối với tài sản của mình, hơn nữa điều này còn cho phép vợ chồng có thể tự bảo toàn tài sản riêng của mình, giảm hoặc tránh những xung đột về tài sản khi ly hôn và giúp cho tòa án xác định được tài sản riêng, chung của vợ chồng được thuận lợi hơn. Mặt khác, chế độ tài sản vợ chồng thỏa thuận sẽ giúp giảm thiểu các rủi ro không may xảy ra khi mà cả hai vợ chồng cùng tham gia hoạt động kinh doanh”.
Tuy nhiên, để chế độ tài sản vợ, chồng theo thỏa thuận không bị lợi dụng cho các hành vi tẩu tán tài sản, lừa đảo, tham nhũng, đại biểu cho rằng dự thảo luật cần quy định chặt chẽ hơn, đảm bảo tính sát thực về nội dung và hiệu lực của giao dịch.
Nhất trí bỏ điều cấm hôn nhân đồng giới
Đại biểu Nguyễn Văn Tuyết (Bà Rịa – Vũng Tàu) cho rằng: Vấn đề đồng giới tính sống với nhau, coi nhau như vợ chồng đang là vấn đề thực tế ở Việt Nam. Cộng đồng người đồng tính dưới nhiều hình thức khác nhau cũng đã thể hiện sự mong muốn được nhà nước công nhận và công nhận quyền được sống theo dạng giới và khuynh hướng tính dục của mình. Chúng ta biết rằng mặc dù pháp luật hiện hành đã cấm việc kết hôn giữa những người đồng giới tính, nhưng việc chung sống như vợ chồng giữa họ vẫn diễn ra, thậm chí có những trường hợp gia đình và người đồng giới đã tổ chức công khai lễ cưới và các cơ quan nhà nước cũng phải áp dụng các biện pháp khác nhau để xử lý, nhưng vẫn không giải quyết được thực trạng này. Hôn nhân giữa những người cùng giới tính là vấn đề có tính nhạy cảm xã hội cao. Việc thừa nhận hôn nhân của họ cũng cần phải được xem xét, cân nhắc, nhìn nhận trên nhiều khía cạnh khác nhau với lộ trình và những bước đi phù hợp.
Do đó, đại biểu Tuyết cho rằng là phù hợp trong điều kiện nước ta, nhà nước quy định không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính nhưng cũng không can thiệp bằng những biện pháp hành chính vào quyền được sống theo bản dạng giới và khuynh hướng tính dục của họ. Trên thế giới hiện đã có 16 quốc gia công nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính. Đa số các quốc gia cũng không cấm việc kết hôn nhưng không thừa nhận hôn nhân của họ.
Tuy vậy, đại biểu Trương Thị Thu Trang cho rằng giải quyết hệ quả về tài sản của việc chung sống như vợ, chồng giữa những người cùng giới tính theo tôi là không thể dẫn chiếu giải quyết như việc giải quyết hệ quả của việc chung sống như vợ chồng giữa nam và nữ. Cần phân biệt quan hệ chung sống như vợ, chồng giữa những người khác giới và những người cùng giới tính bằng cách quy định cụ thể, tài sản hình thành trong thời kỳ chung sống là tài sản chung theo phần chứ không phải là tài sản chung hợp nhất.
Nhất trí đưa việc mang thai hộ quy định trong luật, nhưng cần chặt chẽ hơn
Nhất trí rằng việc cho phép mang thai hộ thể hiện tính nhân đạo của xã hội, của cộng đồng đối với các cặp vợ chồng không có khả năng sinh con, đại biểu Lê Văn Hoàng - TP Đà Nẵng vẫn băn khoăn với nhiều tình huống tranh chấp có thể nảy sinh. Thực tế mang thai hộ ít có trường hợp tự nguyện ngoại trừ chị, em gái, người thân trong họ tộc, các cặp vợ chồng không có khả năng sinh sản thường thỏa thuận với người mang thai hộ một số điều kiện, trong đó có đề cập đến lợi ích của người mang đó. Nếu sự thỏa thuận giữa 2 bên chỉ bằng miệng, sau khi sinh người con, người mang thai hộ không giao đứa trẻ; hoặc sinh đứa trẻ bị khuyết tật, người nhờ mang thai hộ không nhận đứa trẻ thì phát sinh tranh chấp, chưa biết giải quyết ra sao. Chưa kể người mang thai hộ dùng đứa trẻ để vòi vĩnh.
Có trường hợp mang thai hộ được thụ tinh từ nhân tạo sinh ra 2 hoặc 3 trẻ, nhưng người nhờ mang thai hộ chỉ nhận một trẻ... sẽ không biết giải quyết như thế nào. Nhưng nếu thỏa thuận 2 bên thể hiện bằng hợp đồng và điều kiện ràng buộc lẫn nhau thì đây là giao dịch dân sự, ý nghĩa mang thai hộ không còn giá trị. Chúng ta mới nghĩ nhân đạo cho người không mang thai được, còn có nhân đạo với người mang thai hộ và thậm chí nhân đạo với đứa trẻ mới sinh ra không? Đó là những vấn đề cần đặt ra trước khi quyết định đưa vào luật. Với lý lẽ này, đại biểu Hoàng cho rằng chưa nên quy định việc mang thai hộ vào luật và cần có thời gian để thu thập thêm ý kiến đóng góp từ nhiều nguồn của xã hội.
| Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế Trong buổi làm việc chiều 26/11, các đại biểu đã dành thời gian thảo luận về Dự thảo sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế, trong đó các ý kiến đều tập trung vào việc có nên hay không quy định bảo hiểm y tế bắt buộc và giải quyết những bất cập trong khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế hiện nay. Đại biểu Nguyễn Thị Bích Nhiệm (Yên Bái) cho rằng dự thảo luật có quy định bắt buộc toàn dân phải tham gia bảo hiểm y tế, nhưng chưa thể hiện được nội dung bắt buộc và chưa có chế tài xử lý với những người không tham gia. Hiện nay chúng ta có hơn 66% người dân tham gia BHYT, chủ yếu là người có công, gia đình chính sách, trẻ em, hộ nghèo… đối tượng được Chính phủ và các cơ quan sử dụng lao động hỗ trợ. Riêng những người không tham gia bảo hiểm chủ yếu ở khu vực nông thôn, hoàn cảnh khó khăn, vậy quy định bảo hiểm bắt buộc có khả thi không? “Tôi đồng tình với quy định bắt buộc, nhưng phải có lộ trình, cần giảm thủ tục hành chính, nâng cao tuyên truyền, cải thiện dịch vụ khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế, khi đó người dân sẽ tự động tham gia”. |