Liên quan đến sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, Luật Nhà ở được Quốc hội Khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua và có hiệu lực từ 1/7/2015 quy định cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài (không phân biệt là người còn quốc tịch hay người gốc Việt Nam) nếu được phép nhập cảnh vào Việt Nam đều được sở hữu nhà ở thông qua nhiều hình thức như: mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận đổi nhà ở; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong các dự án xây dựng nhà ở được phép bán nền để xây dựng nhà ở; chủ sở hữu nhà ở là người Việt Nam định cư ở nước ngoài có các quyền và nghĩa vụ như công dân Việt Nam ở trong nước.
Đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài thì Luật cũng có nhiều quy định mở rộng hơn về đối tượng và điều kiện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Theo đó, tổ chức nước ngoài (trừ các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ) nếu vào Việt Nam hoạt động; cá nhân nước ngoài (trừ các đối tượng thuộc diện được quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao) nếu được phép nhập cảnh vào Việt Nam thì được sở hữu nhà ở thông qua các hình thức như: mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại trong các dự án xây dựng nhà ở (trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh).
Đặc biệt, Luật đã quy định cho phép các đối tượng này được sở hữu cả căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ (nhà liền kề, nhà biệt thự) và có nhiều quyền hơn trong việc sở hữu như: được sở hữu tối đa không quá 30% số lượng căn hộ trong 1 tòa nhà chung cư (thay vì chỉ được sở hữu 1 căn hộ như quy định hiện hành), sở hữu không quá 250 căn nhà riêng lẻ trên một địa bàn có số dân tương đương cấp phường…
Chủ sở hữu nhà ở là cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở trong thời hạn 50 năm, đối với tổ chức thì được sở hữu theo thời hạn của giấy chứng nhận đầu tư cấp tổ chức đó; khi hết hạn sở hữu mà có nhu cầu thì được gia hạn thêm theo quy định của Chính phủ.