Xét học bổng đối với nhóm 30% thí sinh có điểm thi cao nhất
Thông tư hướng dẫn cụ thể cách xác định người học thuộc diện hưởng học bổng, tổ chức xét và chi trả, quản lý dữ liệu và kinh phí để chính sách được triển khai thống nhất trên cả nước. Đáng chú ý, Thông tư làm rõ cách xác định nhóm không vượt quá 30% thí sinh có điểm cao nhất theo từng nhóm ngành trên phạm vi toàn quốc - một trong những căn cứ để xét hưởng học bổng theo Nghị định số 179/2026/NĐ-CP. Dữ liệu xác định nhóm này gồm người học trúng tuyển trong đợt tuyển sinh chung vào ngành thuộc diện áp dụng chính sách, không phân biệt phương thức xét tuyển, nếu có kết quả thi tốt nghiệp THPT ở các môn theo quy định.
Điểm dùng để xác định nhóm 30% được tính từ môn Toán và hai môn có điểm cao nhất trong số Vật lí, Hóa học, Sinh học và Tiếng Anh. Các môn đều tính theo thang điểm 10, không nhân hệ số. Không sử dụng điểm ưu tiên, điểm cộng, điểm quy đổi từ chứng chỉ hoặc kết quả của phương thức, kỳ thi, hình thức đánh giá khác.
Với mỗi nhóm ngành, thí sinh được xếp theo tổng điểm từ cao xuống thấp và lựa chọn trong giới hạn không vượt quá 30% số thí sinh có dữ liệu hợp lệ. Nếu tại vị trí cuối danh sách có nhiều thí sinh bằng điểm nhau và việc đưa tất cả vào sẽ khiến số lượng vượt quá 30%, toàn bộ thí sinh ở mức điểm bằng nhau đó sẽ không được đưa vào nhóm; không sử dụng thêm tiêu chí phụ để chọn một số người trong nhóm cùng điểm. Mức điểm để xét hưởng học bổng của từng nhóm ngành được xác định bằng mức cao hơn giữa 22,50 điểm và mức điểm thấp nhất của nhóm không vượt quá 30% thí sinh có điểm cao nhất.
Sau khi có kết quả trúng tuyển của đợt tuyển sinh chung, Bộ GD&ĐT xác định và công bố mức điểm của từng nhóm ngành. Nhóm không vượt quá 30% được xác định trên cơ sở dữ liệu của đợt tuyển sinh chung trong năm tuyển sinh và không xác định lại đối với các đợt xét tuyển bổ sung.
Không phải làm hồ sơ xin học bổng
Một điểm thuận lợi đối với người học là không phải tự làm và nộp hồ sơ đề nghị xét hưởng hoặc tiếp tục hưởng học bổng. Thông tin phục vụ xét học bổng được khai thác từ dữ liệu tuyển sinh, đào tạo và các hệ thống thông tin đã có, đồng thời được cập nhật, xác nhận trên Nền tảng quản trị đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chiến lược quốc gia.
Người học cũng không phải cung cấp lại những giấy tờ, thông tin đã có trong các cơ sở dữ liệu mà cơ quan quản lý và cơ sở đào tạo có thể khai thác theo quy định. Nếu dữ liệu còn thiếu, chưa chính xác hoặc chưa thống nhất, cơ sở đào tạo có trách nhiệm kiểm tra, xác minh và cập nhật; người học chỉ phối hợp, xác minh thông tin khi cần thiết.
Đối với sinh viên đại học thuộc diện xét học bổng lần đầu, việc xét hưởng được hoàn thành trong vòng 15 ngày làm việc kể từ khi cơ sở đào tạo xác nhận người học nhập học. Với người học sau đại học, việc xét duyệt được hoàn thành trước ngày 30/10 của năm tuyển sinh. Kết quả xét học bổng được công khai, nhưng các thông tin cá nhân như mã định danh, số tài khoản và thông tin thuộc đời sống riêng tư của người học phải được bảo vệ theo quy định.
Chuyển trường, chuyển ngành không phải làm thêm thủ tục về học bổng
Học bổng được chi trả định kỳ theo tháng, theo mức và thời gian quy định tại Nghị định số 179/2026/NĐ-CP và trong phạm vi kinh phí ngân sách nhà nước được giao. Trước khi chi trả, cơ quan, đơn vị thực hiện phải đối chiếu để bảo đảm đúng người, đúng mức hưởng; không chi trùng thời gian hoặc trùng nguồn kinh phí. Việc thanh toán được thực hiện bằng phương thức không dùng tiền mặt hoặc phương thức hợp pháp khác.
Thông tư cũng làm rõ trường hợp người học chuyển ngành, chuyển chương trình hoặc chuyển sang cơ sở đào tạo khác. Thay vì người học phải làm thêm một bộ thủ tục riêng cho học bổng, các cơ sở đào tạo có trách nhiệm cập nhật và đối soát dữ liệu để xác định việc tiếp tục hưởng chính sách. Người học không phải làm thủ tục đề nghị chuyển hoặc tiếp tục hưởng học bổng riêng ngoài thủ tục chuyển ngành, chuyển chương trình hoặc chuyển cơ sở đào tạo theo quy định. Đồng thời, cơ sở đào tạo, cơ quan, đơn vị không đặt thêm điều kiện hưởng học bổng ngoài các điều kiện quy định tại Nghị định số 179/2026/NĐ-CP.
Thông tư cũng hướng dẫn việc người học tuyển sinh từ năm 2025 được áp dụng chính sách học bổng kể từ ngày 1/9/2026 nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định. Thời gian được hưởng được tính trong phần thời gian còn lại của thời gian đào tạo chuẩn của chương trình. Đối với người học tuyển sinh năm 2025 và năm 2026, việc xét hưởng lần đầu được thực hiện theo Nghị định số 179/2026/NĐ-CP và các hướng dẫn tại Thông tư số 80/2026/TT-BGDĐT. Kinh phí thực hiện trong năm 2026 được tính từ ngày 1/9/2026, không tính cho thời gian trước thời điểm này.
Trước đó, Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định số 2778/QĐ-BGDĐT ngày 21/9/2026 về Danh mục các ngành đào tạo thuộc nhóm ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược được áp dụng chính sách học bổng theo Nghị định số 179/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Theo đó, Danh mục được chia thành 2 nhóm: Ngành khoa học cơ bản và ngành đào tạo kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược.
Cụ thể, Danh mục ngành khoa học cơ bản gồm 29 ngành, thuộc 5 nhóm ngành: Sinh học, Khoa học vật chất, Khoa học trái đất, Toán học và Thống kê. Danh mục ngành kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược gồm 62 ngành, thuộc 13 nhóm ngành. Trong đó có nhiều ngành gắn với các lĩnh vực công nghệ mới và nhu cầu nhân lực chất lượng cao như Công nghệ bán dẫn, Khoa học dữ liệu, Trí tuệ nhân tạo, An ninh mạng, Kỹ thuật Robot, Kỹ thuật cơ điện tử, Thiết kế vi mạch, Kỹ thuật điều khiển và tự động hóa, Kỹ thuật hàng không, Kỹ thuật không gian, Kỹ thuật hạt nhân. Các ngành còn lại thuộc các nhóm Sinh học ứng dụng; Khoa học vật chất; Khoa học trái đất; Toán học; Máy tính; Công nghệ thông tin; Kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật; Kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông; Kỹ thuật hóa học, vật liệu, luyện kim và môi trường; Vật lý kỹ thuật; Kỹ thuật địa chất, địa vật lý và trắc địa; Kỹ thuật mỏ và Xây dựng.