Cuộc đời của vị tướng quân đội chuyển sang làm chính khách, lãnh đạo đất nước Israel đương đầu với những thách thức, đe doạ về an ninh. Các sử gia đều ghi nhận rằng, suốt giai đoạn 55 năm đầu sự nghiệp, Sharon là một chiến binh Do Thái thực thụ, gắn liền với những cuộc chiến bảo vệ Nhà nước Do Thái, từ cuộc chiến Kênh đào Suez năm 1956, đến các cuộc chiến tranh 6 ngày năm 1967 và Yom Kippur năm 1973.
Trong các cuộc chiến đó, Sharon từ một đại tá chỉ huy đơn vị bộ binh Unit 101 cừ khôi, thất bại (ở bán đảo Sinai năm 1956) không làm ông nản lòng, đến khi lên làm tướng Tư lệnh Bộ binh, Sharon đã chỉ huy cuộc chiến Yom Kippur ghi nhiều chiến công, mang lại thanh thế cho Israel trong khu vực Trung Đông xung quanh là các quốc gia Arập đối nghịch. Thời đó, tướng Sharon người đầy khói súng đạn, đi đến đâu là máu đổ, bom đạn ngút trời đến đó.
Nhắc đến ông, không ai không biết đến các chính sách tàn bạo và đầy bất ngờ của ông đối với người Palestine. Sự kiện tai tiếng nhất trong sự nghiệp của Sharon chính là cuộc tàn sát hàng trăm người Palestine tại hai trại tị nạn Sabra và Shatila trên đất Liban năm 1982, khi đó ông là Bộ trưởng Quốc phòng Israel. Sau sự kiện tai tiếng đó, Sharon từ chức Bộ trưởng Quốc phòng.
Nhưng, bẵng đi một thời gian gần 20 năm, Sharon đã làm một cuộc trở lại với vai trò một chính khách cao cấp: đắc cử Thủ tướng Israel năm 2001 với 62,4% phiếu, cao nhất trong lịch sử Israel. Và một lần nữa, Sharon đã làm cho người Palestine nổi giận khi đến thăm khu vực vô cùng nhạy cảm, Núi Đền, vào tháng 9/2000, từ đó châm ngòi bùng nổ cuộc nổi dậy thứ hai của người Palestine, thường được gọi là Intifadeh II.
Chính sách cứng rắn và thái độ xem thường dư luận của Sharon dễ thu hút sự chỉ trích của dư luận quốc tế và một bộ phận "bồ câu" ở Israel, nhưng đối với bộ phận "diều hâu" mang tinh thần quốc gia dân tộc cao độ thì Sharon là vị lãnh đạo mà họ có thể tin cậy, một vị lãnh đạo có những bước đi quyết định để bảo vệ họ trước các mối đe dọa từ người Palestine và từ bên ngoài. Đơn giản là vì, Sharon đặt vấn đề an ninh cho người Israel thành ưu tiên hàng đầu.
Thế rồi, đùng một cái, Sharon đột ngột thay đổi chính sách đối với người Palestine khi ông đơn phương rút quân đội và tất cả 8.000 người Do Thái trong các khu định cư ra khỏi Dải Gaza, nhường Gaza lại cho người Palestine toàn quyền quản lý. Tuy nhiên, cũng từ đó, các khu định cư Do Thái đã được tăng cường xây dựng ở khu Bờ Tây sông Jordan, bắt đầu chiến dịch lấn đất, xây nhà ở trên những phần đất đã chiếm của người Palestine sau cuộc chiến năm 1967.
Mặt khác, việc vắng bóng người Do Thái ở Dải Gaza cũng tạo điều kiện thuận tiện hơn cho quân đội Israel trong việc không kích, tấn công các mục tiêu là các tay súng vũ trang người Palestine nhằm triệt tiêu nguy cơ đe dọa an ninh cho người Israel.
Tháng 11/2005, Sharon bắt đầu chuyển hướng lập trường chính trị với việc tách ra khỏi đảng cực hữu Likud để thành lập đảng mới Kadima với đường lối chính trị ôn hòa hơn. Thế nhưng, giới chính trị "bồ câu" ở Israel và trên thế giới chưa kịp chứng kiến trọn vẹn cuộc xoay chuyển ấy thì cơn đột quị tháng 1/2006 đã chấm dứt nhiệm kỳ Thủ tướng của Sharon, chấm dứt luôn cuộc chuyển giao đường lối đầy lạc quan của ông. Định mệnh trớ trêu đã khiến cho Sharon chưa kịp đi trọn con đường quá độ từ một chiến binh - chính khách diều hâu sang một chính khách ôn hòa.
Ariel Sharon vắng bóng trước công chúng đã 8 năm qua, sau cơn đột quị ấy, nhưng trong ký ức nhiều người Israel, và cả người Palestine, người Arập ở khu vực Trung Đông, Sharon chưa bao giờ bị lãng quên. Đối với người Do Thái, "di sản" của Sharon để lại đang tiếp tục tạo nên một thế cuộc trong đó Israel giằng co với người Palestine và cộng đồng Arập về vấn đề lãnh thổ, về sự công nhận sự tồn tại của Nhà nước Do Thái như một thực thể không thể thiếu trong khu vực.
Các khu định cư Do Thái ở Bờ Tây sông Jordan mà Sharon là người có "công" tạo ra đang là trở ngại lớn cho tiến trình đàm phán hòa bình theo công thức "hai nhà nước" do bộ tứ gồm Liên Hiệp Quốc, Liên minh châu Âu, Nga và Mỹ bảo trợ.
Các chính sách của ông đối với người Palestine ở Dải Gaza tiếp tục được Benjamin Netanyahu áp dụng đã phần nào khiến cho lực lượng Hamas - vốn không công nhận Nhà nước Do Thái và xem Israel là kẻ thù không đội trời chung, làm thay đổi lập trường, thay đổi đường lối đấu tranh, an ninh của người Israel nhờ đó được cải thiện nhiều hơn. Và những đường lối đối ngoại của ông đã làm cho Israel ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn, không phải bằng vũ khí quân sự mà bằng thứ sức mạnh mới mà người ta hay gọi là "quyền lực mềm".
Có thể Sharon sẽ không qua khỏi sau cơn đột biến xấu vừa qua, nhưng những gì ông làm được cho người Israel chỉ trong một nhiệm kỳ ngắn ngủi đã đủ để không ít người Israel nhắc tên ông và nhớ đến ông từ trong ký ức sâu thẳm của họ