Trong rất nhiều mô hình hợp tác, liên kết giữa các châu lục, vùng, lãnh thổ trên thế giới, mô hình liên kết giữa hai châu lục Á – Phi có đặc thù riêng. Đó là hai châu lục giữ hai cái nhất: đông dân số nhất (châu Á) và có nhiều nước đói nghèo, lạc hậu nhất (châu Phi). Trong lịch sử, Á- Phi có nhiều nước vốn là thuộc địa của các nước phát triển Âu – Mỹ và sự đói nghèo, lạc hậu kéo theo chiến tranh, xung đột sắc tộc, vùng, lãnh thổ, trong đó nhiều khu vực xung đột, chiến tranh triền miên.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, một trật tự thế giới mới dần được hình thành song các nước mới giành được độc lập chưa có được vị trí và tiếng nói tương xứng trong trật tự đó, rất nhiều nước Á-Phi còn sống dưới chế độ thực dân.
![]() |
| Các nhà lãnh đạo Á-Phi thể hiện sự cần thiết tăng cường liên kết. |
Hội nghị Bandung năm 1955 mở ra một chương mới, là hội nghị đa phương đầu tiên của các nước đang phát triển, các nước mới giành được độc lập để phối hợp hành động vì các lợi ích chung là xoá bỏ chủ nghĩa thực dân và hợp tác để phát triển.
Điều đáng chú ý, với chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội của Việt Nam năm 1954, Hội nghị như pháo hiệu cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào giải phóng dân tộc trên khắp thế giới (chỉ trong vòng 5 năm sau Hội nghị đã có trên 20 nước châu Phi giành được độc lập), khởi đầu cho một kỷ nguyên mới về hợp tác, đoàn kết giữa các nước đang phát triển, đưa đến sự thành lập phong trào không liên kết năm 1961, nhóm 77 năm 1964 và cơ chế hợp tác Nam-Nam…
Nhìn lại lịch sử như vậy thì liên kết hợp tác Á-Phi có bề dày lịch sử hơn nhiều mô hình hợp tác liên châu lục khác. 60 năm sau Hội nghị Bandung, các nước Á-Phi đều đã trở thành các quốc gia độc lập, có chủ quyền nhưng vẫn chịu những sự bất công, bất bình đẳng và nhiều thiệt thòi trong quan hệ quốc tế.
Mặt bằng kinh tế hai châu lục này vẫn đứng mức thấp so toàn cầu, đặc biệt tại châu Phi, trong khi mức chênh lệch đói nghèo giữa các nước châu Á không ngừng gia tăng, cùng với đó là các bất ổn về an ninh, đe dọa hòa bình.
Diễn ra vào lúc tình hình thế giới có những chuyển biến phức tạp, đồng thời Liên Hợp quốc đang hoàn tất xây dựng chương trình nghị sự phát triển sau 2015, Hội nghị lần này là dịp để các nước Á-Phi cùng thống nhất hành động, phấn đấu vì một trật tự thế giới công bằng hơn, ứng phó hiệu quả hơn với các thách thức chung về hoà bình, ổn định và phát triển bền vững.
An ninh chính trị là vấn đề quan tâm hàng đầu của các nước. Tại Hội nghị, các nhà lãnh đạo Á - Phi đã tỏ rõ sự quan ngại đối với tình trạng an ninh bất ổn của một số khu vực cũng như toàn cầu, cùng với đó là chủ nghĩa khủng bố và chủ nghĩa cực đoan, bạo lực tiếp tục thách thức sự phát triển cũng như những nỗ lực hướng tới hòa bình và thịnh vượng của các quốc gia trên thế giới.
Nhắc lại các nguyên tắc của Hội nghị Bandung 1955 là giải quyết xung đột thông qua các biện pháp hòa bình và không xâm lược, đe dọa xâm lược, trong đó có có nguyên tắc luật pháp cần phải “bảo vệ phẩm giá của các quốc gia có chủ quyền cho dù họ là nước lớn hay nước nhỏ”, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe khẳng định quyết tâm của Nhật Bản trong việc đảm bảo hòa bình, thịnh vượng và “không bao giờ cho phép việc kẻ mạnh dùng vũ lực để ép buộc kẻ yếu mà không bị ngăn cản”. Đây là thông điệp được các nước quan tâm.
Trong ba văn kiện được thông qua, Hội nghị nhấn mạnh vai trò của Liên Hợp quốc trong duy trì hoà bình và an ninh quốc tế phù hợp các nguyên tắc Bandung, trong đó có các nguyên tắc không sử dụng vũ lực, không gây sức ép, giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế phù hợp với Hiến chương Liên Hợp quốc. Từ đó, có thể thấy những hoạt động và đóng góp của ASEAN trên lĩnh vực này, trong đó có vấn đề Biển Đông là việc làm đúng hướng, phù hợp với mong muốn chung của hầu hết các nước.
Thứ hai, về kinh tế, hai khu vực cần phát huy tiềm năng, thúc đẩy quan hệ thương mại, đầu tư, tăng cường kết nối, ưu tiên các lĩnh vực như an ninh nông nghiệp, lương thực, nguồn nước và năng lượng, cũng như phát triển cơ sở hạ tầng.
Thứ ba, các nước khẳng định sự ủng hộ trước sau như một đối với sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Palestine nhằm thực hiện quyền tự quyết của mình. Có thể nói, Hội nghị Cấp cao Á-Phi 2015 vừa tiếp nối tinh thần Bandung của 60 năm trước, vừa góp phần giải quyết những vấn đề đang nóng bỏng hiện tại, những vấn đề mà các nước Á-Phi, trong đó có những vấn đề mà Việt Nam đang phải đối mặt.
Việt Nam đến với Hội nghị đầy ý nghĩa này với tư cách là một trong những nước sáng lập Hội nghị Bandung 1955, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng các nước Á-Phi. Điều này thể hiện ở chỗ, chúng ta cùng các nước cử đoàn cấp cao tham dự tất cả các sự kiện có ý nghĩa quan trọng với các nước đang phát triển diễn ra cùng lúc tại Indonesia. Trong đó, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam tham dự Hội nghị cấp cao Á-Phi, Lễ kỷ niệm 60 năm Hội nghị Bandung 1955 và kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược Á-Phi.
Thứ hai, những phát biểu của lãnh đạo cấp cao nước ta đã giúp bạn bè hiểu rõ hơn nỗ lực của Việt Nam cùng các nước ASEAN xây dựng một khu vực Đông Nam Á hoà bình, ổn định và thịnh vượng, trong đó nhấn mạnh yêu cầu giải quyết hoà bình các tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế, bảo đảm tự do và an ninh, an toàn hàng hải, hàng không, đồng thời chia sẻ các sáng kiến, kinh nghiệm của Việt Nam thúc đẩy liên kết, hợp tác phát triển với các nước châu Phi, hợp tác Nam-Nam.
Điểm nữa, Việt Nam đã tích cực đóng góp xây dựng cho các văn kiện của Hội nghị vừa phản ánh quan tâm chung của các nước Á-Phi, vừa lồng ghép những nội dung quan trọng đối với Việt Nam liên quan đến Biển Đông.
Cuộc đi bộ diễu hành lịch sử kỷ niệm 60 năm Hội nghị Bandung với sự hiện diện của lãnh đạo 105 quốc gia Á-Phi thể hiện sự bất diệt của tinh thần Bandung, vừa cho thấy sự lớn mạnh và đoàn kết của cộng đồng các nước đang phát triển Á – Phi trong một thế giới đang có nhiều biến đổi sâu sắc.
