Kết quả rà soát chính sách dân tộc giai đoạn 2006-2014 của Ủy ban Dân tộc cho thấy, hiện nay có 130 chính sách dân tộc được thể hiện qua 177 văn bản tại 37 Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ và 140 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Trong đó, Ủy ban dân tộc quản lý 9 chính sách và các bộ, ngành quản lý 121 chính sách. Ngoài ra, các địa phương đã chủ động thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước bằng việc ban hành các chủ trương, chính sách riêng phù hợp với địa bàn. Nguồn lực được bố trí thực hiện các chính sách vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2006-2012 là 150.000 tỷ đồng. Chính sách dân tộc hiện nay là khá đầy đủ, toàn diện trên các lĩnh vực và phủ kín các địa bàn dân tộc và miền núi. Cơ chế, chính sách đã từng bước thay đổi về quan điểm, tư duy, phân cấp cho địa phương trên cơ sở công khai, minh bạch trong công tác xây dựng và lập kế hoạch, từ hỗ trợ trực tiếp cho hộ chuyển dần sang hỗ trợ cho cộng đồng, nhóm hộ, từ cho không chuyển sang cho vay.
Ngân sách Nhà nước tuy còn khó khăn nhưng Nhà nước đã ưu tiên bố trí nguồn lực kết hợp với nguồn vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp và địa phương để hỗ trợ, đầu tư phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc và miền núi. Điển hình như Chương trình 135, nội dung chính sách gồm đủ các hợp phần đầu tư cơ sở hạ tầng, đào tạo nâng cao năng lực cho cộng đồng, hỗ trợ phát triển, trợ giúp pháp lý cho người dân, bảo tồn văn hóa và hỗ trợ học sinh thuộc hộ nghèo; thu hút được sự tham gia hỗ trợ của 7 tổ chức quốc tế với gần 400 triệu USD. Trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo, cùng với các chính sách hiệu quả khác, riêng chính sách cử tuyển từ năm 1999 đến nay đã cử tuyển được trên 19.700 học sinh dân tộc thiểu số vào các trường đại học và cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, qua đó góp phần thiết thực trong bổ sung nguồn nhân lực cho vùng dân tộc và miền núi... Bên cạnh những kết quả đạt được, vùng dân tộc và miền núi vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế: Đây vẫn còn là vùng khó khăn nhất, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, giảm nghèo chưa bền vững; cơ sở hạ tầng còn yếu kém; chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi thấp; tình trạng du canh du cư, chặt phá rừng, hoạt động tôn giáo trái pháp luật có nơi diễn biến phức tạp…
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, chính sách dân tộc, công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước là vấn đề mang tính chiến lược; có ý nghĩa chính trị, vị trí đặc biệt quan trọng; là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên và cũng là trách nhiệm của của cả hệ thống chính trị, không có bộ, ngành, địa phương nào là không có trách nhiệm đối với công tác này. Kết quả thực hiện chính sách dân tộc góp phần quyết định tới sự ổn định và phát triển của đất nước. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, sự phát triển bền vững của đất nước có được phải dựa trên nền tảng lòng dân. Theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, các chủ trương được đề ra về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước thời gian quan là hết sức đúng đắn và phù hợp, sớm được cụ thể hóa và đi vào thực tiễn cuộc sống, qua đó đã mang lại những kết quả tích cực, làm cho diện mạo vùng dân tộc và miền núi không ngừng được thay đổi. Những nỗ lực của cả hệ thống chính trị cũng như những kết quả đạt được trong phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc, đặc biệt là những kết quả về giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển, được Liên hiệp quốc, các tổ chức quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.
Tuy nhiên, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng nêu rõ cần nghiêm túc nhìn nhận, tập trung giải quyết, khắc phục những tồn tại, hạn chế trong phát triển vùng dân tộc và miền núi, như tỷ lệ hộ nghèo còn cao; còn một bộ phận đồng bào thiếu đất sản xuất, điều kiện sản xuất khó khăn, trình độ canh tác, hiệu quả sản xuất thấp; y tế, giáo dục-đào tạo còn kém phát triển, trình độ dân trí thấp; cơ chế phối hợp trong thực hiện chính sách dân tộc nhiều lúc còn chưa hiệu quả…