Vườn bí bà May

Bà May nhắm mắt lại và nhớ xem mình đã trồng thứ gì trên mảnh nương trước khi rời đi vào mười năm trước. À, đó là một rẫy bí đỏ. Tháng chín, cuối năm, hoa bí nở vàng rực như khoe mẽ cùng đám lúa nương. Hoa bí đỏ vừa cho quả, vừa là một thứ rau ngọt ngọt, bùi bùi. Ôi, những bông hoa bí rực vàng!...

…còn riêng trái bí
Nhớ giàn đầy hoa…

(T.C.S)

Mấy ngày nay chẳng hiểu sao bà May nhớ quê cũ da diết. Nơi ấy xa lắc và đang mờ dần trong tâm trí bà, hệt như mái nhà, vườn rau bí sau vườn và lũ con cháu cũng đang dần mờ đi trước mắt. Quê cũ bà May đã chìm sâu trong nước hồ thủy điện. Cạnh đó chỉ còn lai một vài mỏm đất nhấp nhô. Ồ, những mỏm đất mỗi sáng bà vẫn ngó lên từ cái nhà cũ. Ngày xưa bà từng trồng đủ thứ rau quả sau vụ gặt lúa rẫy trên những ngọn đồi mấp mô kia.

Bà May nhắm mắt lại và nhớ xem mình đã trồng thứ gì trên mảnh nương trước khi rời đi vào mười năm trước. À, đó là một rẫy bí đỏ. Tháng chín, cuối năm, hoa bí nở vàng rực như khoe mẽ cùng đám lúa nương. Hoa bí đỏ vừa cho quả, vừa là một thứ rau ngọt ngọt, bùi bùi. Ôi, những bông hoa bí rực vàng!... Bà chỉ còn nhớ được vậy. Sắc hoa cứ chập hờn trước ánh mắt đang dần mờ đục của bà lão.

Nắng đã tìm đến khoảng sân trước nhà. Trước mắt bà May, sắc nắng, sắc hoa hòa chan nhảy múa, khiến đầu óc của bà chao đảo.

“Mẹ ngồi xuống đi.” – Khăm, cô con dâu đứng bên cạnh tự bao giờ, nói giọng như ra lệnh - “Kẻo rồi lại ốm ra. Đi viện mùa dịch dã này khổ lắm. Không có xe khách đâu. Anh Lá thì cả tháng nay thất nghiệp không gửi tiền về rồi”.

Bà ngó vẻ cau có của nàng dâu, lặng thinh. Cái gậy dò dẫm từng bước, bà trở về bậu cửa, ngồi lên chiếc ghế mây. Bà biết Khăm cũng tốt tính. Mẹ chồng ốm là cuống lên như bò con lạc mẹ. Thằng Lá, chồng nó, con út bà làm ăn tận trong miền Nam, nửa năm mới về mà chẳng thấy chòm xóm có điều tiếng gì cô con dâu.

Khăm tung nắm thóc cho lũ gà và không nói gì nữa. Trên lưng mẹ, đứa con trai vừa tròn một tuổi vân vi nắm xôi hết cho vào mồm lại bỏ ra khua khoắng như muốn ném đi.

Mười năm trước, bà May cùng chồng và đứa con út về nơi ở mới. Người ta gọi chốn ở mới là khu tái định cư.

“Đi lập bản mới hà? Dời nhà đi hà?”.

Minh họa: Lê Trí Dũng
Minh họa: Lê Trí Dũng

Bà May hỏi anh cán bộ quần áo màu xanh rêu, mũ cũng xanh rêu, trên mũ có gắn ngôi sao màu vàng, nom như chồng bà hồi xưa đi bộ đội về bản.

“Sao lại phải đi chứ? Ở đây có mất mùa, có bệnh dịch như hồi xưa đâu” .

Anh cán bộ nói vẻ từ tốn:

“Rồi bản mình sẽ chìm trong nước bà ạ, người ta sắp ngăn sông để làm thủy điện”.

“Ôi cha mẹ ơi. Rồi tất cả nhà cửa, mồ mả ông bà sẽ chìm hết sao?” – Ông Bun, chồng bà bỏ dở điếu thuốc vừa cuốn, chưa kịp châm lửa.

“Đó là chủ trương cấp trên” – Anh cán bộ nói vẻ nghiêm nghị. “Cả làng, cả bản đều rời đi. Gia đình ta sẽ không ở một mình đâu mà lo”.

Đúng là cả bản phải dời đi thật. Nhiều bản khác, người ta cũng phải dời đi, mình ở sao được.

Bà May nhớ khi còn nhỏ bằng trái bí xanh, lần đầu nắm lấy váy mẹ dời bản. Hồi đó, bản chỉ cò mươi nóc nhà. Người ta chỉ ở một chỗ được chừng chục mùa rẫy là rời đi. Người ta dời đi để tránh bệnh dịch, mất mùa. Cứ vậy, chỉ sau vài thế hệ, chẳng ai còn nhớ quê hương bản quả của mình ở đâu nữa. Mấy chục mùa rẫy trước, người ta dời đến cạnh sông Nậm Luông lập bản. Rồi mọc lên cái trường học, nhà ủy ban. Người ta làm rẫy, bắt cá, săn thú nuôi miệng. Bản làng dần đông đúc. Những tưởng sẽ có chốn vùi xương khi hồn vía về trời, ai dè lại phải chuyển đi lần nữa.

Chuyến dời bản ấy rồi ai cũng sẽ nhớ mãi. Người ta cho lên thuyền rồi chở đi cả ngôi nhà gỗ lớn. Có người đã được làm cho nhà mới, chỉ cần dọn đến ở. Riêng ông Bun thì nhất quyết phải mang được cái nhà cũ đi. Lao tâm khổ não lắm, đến nỗi đứa con trai lớn cũng đã phải bỏ mạng vì căn nhà, ông lão không muốn bán nó đi.

Ngày chuyển đến làng mới cả bản vừa mừng vừa lo. Mừng vì chốn này rộng rãi hơn quê cũ. Người ta mở hội ăn mừng, hội cúng bản mới. Cuộc linh đình cứ thế kéo dài cả nửa tháng. Trong túi ai cũng sẵn chút ít là tiền đền bù của dự án thủy điện. Người ít kẻ nhiều nhưng với nhiều nhà đây là lúc rủng rỉnh nhất trong đời.

Rồi những cuộc say cũng tiêu biến, người ta trở về với mỗi lo thường nhật. “Về đây không làm rẫy lúa được. Làm ruộng thôi” – Ông Chủ tịch xã nói oang oang trong khi ai nấy đang khật khà bên ché rượu cần. Có người buông vòi hút lắc đầu ngao ngán. Riêng ông Bún vẫn ngồi lặng thinh. Trong đầu ông Bún đang nghĩ đến tương lai của gia đình. Gạo ăn nhà nước cho gia đình lão ăn mãi rồi sẽ cạn veo.

Sáng hôm sau, lão gọi thằng Lá dậy sớm tìm đến dòng suối cạnh thửa đất được chia ngăn dòng, đắp đập dẫn nước vào bãi hoang khẩn ruộng. Hai cha con làm miết cho đến kỳ xong việc thì được chừng dăm đám ruộng. Những mảnh ruộng là thứ duy nhất ông Bun để lại cho vợ con trước khi về trời.

Chồng bà May là người đầu tiên chôn cất ở khu rừng ma mới.

Năm tháng qua, lão Bún nhà bà May đã có thêm những người bạn. Bà May nghĩ: Rồi sẽ đến cái ngày của mình. Thấm thoắt đã mười năm, bà vẫn trụ vững như một cái cây già nua bị bứng đi trồng nơi đất khách.

Thằng Lá điện thoại bảo về thôi, dịch dã không làm ăn chi được. Cô con dâu gắt: “Về thì ăn cái gì?”. Trong cái màn hình nhỏ xíu, nom thằng con trắng mà queo quắt như mảnh sắn phơi nắng. Mắt sâu, trán gồ lên, có lẽ nó cũng nghĩ nhiều lắm rồi mới quyết định về.

Trong bữa cơm tối đầu tiên con trai xa nhà trở về, bà May bắt con gà trống làm lễ gọi vía cho nó. Người đã về, cũng phải gọi hồn vía nó về chứ. Cô con dâu thì chẳng tỏ ra vui hay buồn. Nó ngồi bồng con nhìn chồng làm thịt gà. Bà May đứng cạnh soi đèn, miệng bảo:

“Mai mốt, mi đưa mẹ về thăm lại bản cũ. Ta sợ mắt sắp mờ, đến chết cũng không nhìn thấy gì nữa đâu”.

Cậu con trai không gật đầu, nhưng hôm sau vẫn có một chuyến đi. Lá thuê hẳn một chiếc xe chở mẹ về quê cũ. Đến bến thuyền, bà May cứ ngớ người ra, chẳng thể hình dung được đường về quê cũ bây giờ lại mênh mang nước đến vậy. Dẫu rằng bà vẫn thường hỏi thăm những người bỏ nơi tái định cư trở lại bản xưa sinh sống. Họ bảo ở chỗ mới không quen, về chốn cũ mà nuôi con trâu, con gà, đánh cá ăn thôi. Nghe vậy biết vậy chứ ai ngờ làm bản bây giờ đã thành ra cái hồ nước, chẳng còn nhận ra thứ gì nữa.

Một người bà con đón bà May trên ngọn đồi ngày nào bà vẫn lên trỉa rẫy. Từ ngọn đồi, bà nhìn ra sau lưng nơi thuở trước, vào mỗi ngày, bà vẫn hay ngồi ngó lên. Ở đó giờ chỉ có một hồ nước xám ngắt. Vài cái cây chết héo khẳng khiu như đang cố nhoi lên, chối từ  số mệnh.

Vậy là không nhìn được cây dừa trước nhà rồi. Mộ thằng Cả. Trời ơi! Mộ nó cũng chìm dưới nước kia rồi. Dẫu đã nghe người ta nói lại, bà cũng đã mua theo nắm hương để thắp vọng cho thằng Cả đây rồi nhưng vẫn không muốn tin cho đến khi trước mắt bà là mênh mông nước.

“Để con giúp mẹ châm hương cho anh cả” – Lá nói.

Cầm nắm hương trên tay, bà May chẳng biết khấn gì. Nước mắt chảy theo những nếp nhăn xuống gò má, xuống cằm. “Cả ơi, ngày trước mẹ sinh con ở rẫy bí, ở rừng, rồi gỗ rừng lại đè chết con… Hồn vía con nơi nao phù hộ cho mẹ, cho em được khỏe!...”.

Lá cũng chỉ lặng thinh. Ngày Cả mất, nó còn nhỏ, không nhớ rõ mặt anh và nỗi đau cũng phần nào đó mờ nhạt.

Bà trở lại căn chòi của người bà con trên rẫy. Anh ta cũng có một cái nhà ở bản mới, nhưng đã bỏ hoang, dắt díu vợ con về lại quê cũ sinh nhai. Ngoài vườn, đám dây bí đỏ đang bò lan trên mặt đất, vài cái hoa đã nở.

Nơi này ngày trước ta cũng trồng bí mà. Ta đã sinh thằng Cả ở đất này mà. Bà May nói chẳng biết để cho ai nghe.

Đã cuối chiều, Lá giục mẹ:

“Về thôi. Ở đây không có nhà mình nữa đâu mẹ”.

Lúc này, bà May mới đưa trong túi một gói hạt nhỏ trao cho chủ nhà:

“Ta tính về đây ở để trồng vài gốc bí. Nhưng không được nữa rồi. Mắt đã mờ, mà đất này không như xưa nữa. Ta cho mi cái gói hạt để mà trồng thay ta nhé”.

Những cái hạt này mình đã giữ suốt mười năm rồi, chẳng biết có còn lên cây, bà lão nghĩ, có lẽ mình đã lẩn thẩn quá.

Bản Tảu, 9/5/2020

Truyện ngắn của Hữu Vi

Các tin khác

Kẻ điên xem hát

Kẻ điên xem hát

Vào thời nhà Thanh, có một kẻ điên sống ở vùng Giang Nam rất mê xem hát kịch. Mỗi khi đi xem hát, hắn thường vừa xem vừa điên điên khùng khùng kéo ống quần của người khác lên nhìn, miệng còn ngâm nga điệu hát: “Chân vàng nhỏ, chân bạc xinh, kéo quần lên cho mình nhìn ngắm…”.

Đi qua dòng sông

Đi qua dòng sông

Giọng chị mơ hồ và hoảng hốt. Tôi ngước nhìn chị. Dưới ánh trăng, chị đẹp một cách lộng lẫy, như một bức ảnh nàng tiên cá tôi từng được thấy trên tờ họa báo. Làn tóc đen xõa xuống, đôi mắt to tròn lấp lánh. "Chị khổ lắm Hoàng ơi". Tôi khẽ đặt bàn tay lên vai chị: "Ta về thôi chị". Đêm ấy, bu tôi không về vì dì tôi trở bệnh.

Mây trời Huổi Chỏn

Phía ngoài, một khẩu lệnh đanh gọn. Ngay lập tức mũi đột phá gồm ba chiến sỹ cơ động lao thẳng về phía các đối tượng đang chặn đầu tiên, đẩy bật chúng về phía sau. Cực nhanh sau đó, từng tốp hai đồng chí lao vào đánh gục, tước vũ khí, khóa tay các đối tượng. Mấy chục đối tượng hàng sau, hung hãn cầm gậy gộc, vũ khí lao lên nhưng…  hự…ụp…  chúng hoảng loạn quay đầu bỏ chạy.

Vụ cháy hy hữu

Vụ cháy hy hữu

Có một người tên là Hồ Lai, lúc nào cũng nhàn rỗi chẳng có việc gì làm. Anh ta lười biếng và không làm bất cứ công việc nào cho tử tế. Bị gia đình thúc giục, anh ta vay mượn tiền và gom góp đủ để mua một chiếc xe máy cũ rồi bắt đầu buôn bán rau củ.

Không dễ dàng gì

Không dễ dàng gì

A Quý là người bán rau ngoài chợ. Hôm ấy vừa chập tối, anh thu dọn gian hàng đi về thì thấy mấy người hàng xóm đang đứng vây quanh một con chó bàn tán xôn xao.

Chuyện xảy ra trên tàu

Chuyện xảy ra trên tàu

Đoàn tàu khách địa phương dừng lại ở ga để đón tiễn hành khách. Trong số hành khách vừa lên tàu có một cô gái trẻ mặc bộ quần áo rất đẹp và hợp thời trang đang len qua các toa để tìm chỗ ngồi.

Những nẻo đường hoa

Những nẻo đường hoa

Bố làm quen với mẹ từ đó, mẹ cũng mở lòng nghe bố kể chuyện chiến tranh, bố kể cho mẹ nghe cả câu chuyện tình buồn của bố và cô Thảo. Cô ấy hứa sẽ đợi bố đi chiến trận trở về, chiếc khăn tay cô ấy tặng bố còn thêu hai chữ "đợi chờ" bằng sợi chỉ màu đỏ chói. Nhưng, năm 1973, cô ấy gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong, chiến tranh không cướp được bố, nhưng đã cướp mất cô Thảo trong một lần tải đạn ra chiến trường.

Mùa hoa trắng không trở lại

Mùa hoa trắng không trở lại

Em đến từ khi nào. Cánh tay em quấn chặt, vai tôi nóng rực, hơi thở dồn dập, đôi má ấm mềm như tan chảy, thấm dần vào từng mạch máu. Bờ môi căng mọng khẽ chạm, run run hòa vào nhịp tim thổn thức. Nụ hôn nồng nàn đưa tôi lạc giữa cánh đồng tam giác mạch phảng phất hương hoa trong gió núi.

Sương bên đá núi

Sương bên đá núi

Pháo nghe tiếng "rầm", vội cầm đèn pin chạy ra. Dưới ánh sáng vàng vọt, lão trưởng bản lồm cồm bò dậy, bộ áo chàm rách toạc một mảng ở vai, máu rỉ ra thẫm cả vạt vải. Mắt lão cứ trợn ngược nhìn vào vách đá tối om, mồm lầm bầm: "Nó phạt tao... Con ma dốc nó phạt tao thật rồi, Pháo ơi...".

Tiếng huýt sáo kỳ diệu

Tiếng huýt sáo kỳ diệu

Trương Tiểu Dũng bị gãy chân nên phải nhập viện. Trong thời gian này, do bị bó bột nên anh không thể đi lại, may sao trong phòng bệnh có cụ Trần cũng bị thương ở chân nên có thể cùng anh trò chuyện cho đỡ buồn.

Kẻ cắp siêu cấp

Kẻ cắp siêu cấp

Hắc Tam là kẻ cắp có uy tín nhất trong giới trộm cắp, kinh nghiệm “làm việc” nhiều năm đã giúp hắn phát triển được thị lực nhạy bén và khả năng phán đoán phi thường, một khi đã bị hắn nhắm tới thì không một “con mồi” nào có thể trốn thoát.

Làm bảo vệ cũng cần có kỹ năng

Làm bảo vệ cũng cần có kỹ năng

Đinh Tiểu Cương nhận bộ đồng phục bảo vệ, mặc vào và bắt đầu làm bảo vệ. Công việc của Đinh Tiểu Cương không mấy bận rộn, chỉ có việc đi dạo quanh khu phố. Cảm thấy bồn chồn, anh quyết định kiểm tra camera an ninh để xem ai đã lấy trộm cục pin của mình. Tuy nhiên, khi vào phòng giám sát, anh phát hiện chỉ có năm màn hình hiển thị hình ảnh; những màn hình còn lại đều bị hỏng.

Cây đào phai bên bờ rào đá

Cây đào phai bên bờ rào đá

Xóm nhỏ im ắng bỗng rộ lên khi hay tin A Châu bất ngờ trở về. Ai cũng nghĩ rằng A Châu đã không còn trên đời này nữa. Những vụ lật tàu, đắm tàu trên biển, người không rõ tung tích. Nghe đâu hồi đó A Châu cũng trên chuyến tàu ấy...

Trứng gà hàng xóm

Trứng gà hàng xóm

Ở một thị trấn yên tĩnh, có ông Vương và ông Lý là hàng xóm sát vách nhau. Hai nhà chỉ có một bức tường đất thấp ngăn cách với nhau, ngày qua ngày lại, quan hệ khá thân thiết.

Thảm kịch hôn nhân

Thảm kịch hôn nhân

Rồi cô gái trẻ cười hồn nhiên, còn Della lúc đó chỉ nghĩ đó là những chuyện phù phiếm. Vì Bishop quá đẹp còn Elise quá quyến rũ, chỉ những kẻ hẹp hòi mới thêu dệt nên chuyện ngoại tình. Bà đã từng tin như thế. Nhưng giờ đây bà hối hận vì đã tiễn Jakie đi.

Để người lớn làm việc

Để người lớn làm việc

Mùa gặt lúa mì trong mắt người dân thôn Hàm Cóc chẳng khác nào một cực hình. Không khí hầm hập, bụi bặm bám đầy lỗ chân lông, người ngợm lúc nào cũng dấp dính, ngứa ngáy. Thế nhưng, giữa cái làng ấy lại có một “dị nhân” luôn mong ngóng mùa gặt như trẻ con mong mẹ đi chợ về, đó chính là ông Ngô Lùn.

Căn nhà ở phía núi mù sương

Căn nhà ở phía núi mù sương

Căn nhà ấy luôn sáng đèn, ấm lửa những lúc chiều đông ảm đạm của miền rừng heo hút. Đó là nhà của vợ chồng thầy giáo Nam và cô Hồng, nhưng chỉ có cô dạy ở trường này, còn thầy Nam phải dạy xa hơn một chút, tận một bản sâu hơn của huyện miền núi. Cả hai thầy cô đều học cùng trường sư phạm và họ đã yêu nhau từ đó.

Ngọn lửa trong đêm

Ngọn lửa trong đêm

Ở nơi tưởng như vắng bóng người ấy lại có một ngọn lửa nhỏ vẫn sáng mỗi đêm. Ngọn lửa ấy tỏa ra từ căn nhà cấp bốn cũ kỹ, mái ngói thẫm màu rêu, nơi ông Sáu, một cựu chiến binh tình nguyện chọn làm chỗ nương thân khi bước vào tuổi xế chiều.

Nhớ chú Dìn

Nhớ chú Dìn

Đau đớn vì mất vợ con, nhà cửa chú Dìn phát điên, phát dại khá lâu mới trấn tĩnh được. Chẳng đủ sức phát nương, làm rẫy, chú Dìn đành phải lê cái thân tàn của mình đi khắp nơi ngửa tay ăn xin. Hàng năm vào dịp tết chú thường đi “Khai wài xuân” những mong đem may mắn cho mọi người.

Ghét của nào... trời trao của ấy

Ghét của nào... trời trao của ấy

Có đôi vợ chồng nọ lấy nhau đã lâu, cuộc sống vốn dĩ khá êm đềm nhưng cũng không hiếm những lúc cơm không lành, canh chẳng ngọt. Cứ mỗi bận nóng mắt vì anh chồng đi nhậu nhẹt say xỉn, cô vợ lại được đà xỉa xói: