Tháo gỡ điểm nghẽn "lệch pha" cung-cầu
Trình bày báo cáo trung tâm tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định nhấn mạnh, thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, hệ thống pháp luật-trọng tâm là Luật khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (Luật số 93/2025/QH15) cùng các Nghị định hướng dẫn đã tạo ra khung khổ pháp lý bứt phá như giao quyền tự chủ và chấp nhận rủi ro. Tự động giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu dùng ngân sách cho tổ chức chủ trì; không phải hoàn trả kinh phí khi nhiệm vụ không đạt mục tiêu do nguyên nhân khách quan. Cho phép chi R&D đủ điều kiện được tính vào chi phí được trừ tối đa 200% chi phí thực tế; doanh nghiệp được trích tối đa 20% thu nhập tính thuế lập Quỹ phát triển KH&CN để đặt hàng, hợp tác với viện, trường.
Dù có điểm sáng như giai đoạn 2021-2025 doanh nghiệp đã chủ trì 181/1.451 nhiệm vụ cấp quốc gia (chiếm 12,5% số nhiệm vụ và 25,7% kinh phí), Bộ KH&CN thẳng thắn, chỉ ra sự "lệch pha" nghiêm trọng trên thị trường công nghệ. Tính đến tháng 8/2026, trên các sàn giao dịch KH&CN có tới 62.548 công nghệ chào bán nhưng chỉ có 750 nhu cầu tìm mua và mới thực hiện được 72 giao dịch thành công. Chi R&D của khu vực doanh nghiệp Việt Nam mới đạt 0,3% GDP (so với Trung Quốc 2,1%, Hàn Quốc 4,2%). Để tháo gỡ, Bộ KH&CN đề xuất 6 nhóm giải pháp trọng tâm từ quý IV/2026, ban hành bộ 10 chỉ số đo lường liên kết (công bố trong sách trắng KH&CN); thực hiện cơ chế ngân sách nhà nước đồng tài trợ theo tỷ lệ vốn thực góp của doanh nghiệp; chuẩn hóa hợp đồng mẫu; và xây dựng chính sách mua sắm công đối với sản phẩm công nghệ mới trong nước.
Báo cáo tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo Phạm Quang Hưng khẳng định, khối giáo dục đại học là lực lượng nghiên cứu lớn nhất đất nước với hơn 95.000 giảng viên, gần 64.000 nghiên cứu sinh và đóng góp trên 83%-85% công bố quốc tế của cả nước. Tuy nhiên, phần lớn năng lực này mới dừng ở các bài báo khoa học hoặc kết quả nghiên cứu ở quy mô phòng thí nghiệm (TRL 3-4), chưa thông "đường ống" để chuyển thành sản phẩm thương mại (TRL 6-7 trở lên).
Nhằm giải quyết gốc rễ vấn đề, Bộ GD&ĐT đề xuất triển khai các mô hình đột phá, thí điểm "chương trình liên minh nghiên cứu hợp tác 3 Nhà" (mô hình CRC). Vận dụng kinh nghiệm của Australia, nhà nước cấp "vốn mồi" tối đa 50%, doanh nghiệp đối ứng bằng tiền thật tối thiểu 30-50% để giải quyết các bài toán chiến lược. Sandbox cho doanh nghiệp khởi nguồn (Spin-off), thí điểm Đề án của Đại học Bách khoa Hà Nội theo cơ chế "cấp phép khai thác trước-xác lập giá trị sau" để tránh tình trạng sợ thất thoát tài sản công khi định giá tài sản trí tuệ…Bộ GD&ĐT cũng kiến nghị thành lập tổ công tác liên ngành về hợp tác "3 nhà" do Bộ GD&ĐT làm đầu mối để rà soát, xử lý dứt điểm các vướng mắc về tài sản công, tài chính và nhân lực.
Cần "đơn hàng có giá", bảo hộ thị trường và chia sẻ rủi ro
Tại các điểm cầu trực tiếp và trực tuyến, đại diện cộng đồng doanh nghiệp đã đưa ra những góc nhìn thực tế cùng nhiều kiến nghị gai góc. Cụ thể, đại diện Viettel nhấn mạnh công nghệ chiến lược chỉ trở thành năng lực quốc gia khi được kết tinh thành sản phẩm sản xuất ở quy mô lớn. Viettel kiến nghị Nhà nước tập trung nguồn lực giao các doanh nghiệp đủ năng lực giữ vai trò dẫn dắt; bổ sung cơ chế đồng tài trợ cho giai đoạn hoàn thiện công nghệ (TRL 4–7); và thí điểm ngay chương trình phiếu hỗ trợ tài chính (voucher) mua sắm thiết bị 5G, camera AI, trợ lý ảo.
Cùng đó, đại diện FPT đề xuất nguyên tắc mỗi nhiệm vụ chiến lược phải tạo ra 3 thành quả là công nghệ lõi được làm chủ, sản phẩm được ứng dụng và đội ngũ nhân tài tiếp tục phát triển. FPT triển khai mô hình đào tạo "Ba việc, một hành trình, học-nghiên cứu-làm" trong môi trường AI-native. Với Tập đoàn ô tô Hiệp Hoà, đại diện doanh nghiệp chia sẻ thành công từ mô hình hợp tác "3 Nhà" với UBND TP. Hà Nội và Đại học Bách khoa Hà Nội để làm chủ 100% phần mềm điều khiển tiếng Việt và cơ khí xe thang chữa cháy 32m, 56m. Doanh nghiệp kiến nghị Nhà nước đóng vai trò "bà đỡ" bằng cơ chế ưu tiên mua sắm công đối với sản phẩm trong nước đã làm chủ công nghệ (tương tự đạo luật Buy American Act)…
Phát biểu kết luận Hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng khẳng định từ khi có Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Đảng và Nhà nước đã dành sự quan tâm đặc biệt, ban hành nhiều chủ trương, cơ chế chính sách bứt phá và vượt trội nhằm thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tư duy quản lý đã chuyển mạnh từ kiểm soát quy trình đầu vào sang quản lý sản phẩm đầu ra, chấp nhận rủi ro và lấy doanh nghiệp làm trung tâm. Tuy nhiên, Phó Thủ tướng chỉ rõ khâu tổ chức đưa chính sách vào cuộc sống vẫn còn rất chậm, trong đó điểm nghẽn lớn nhất là sự liên kết thiếu chặt chẽ, chưa thực chất giữa Nhà nước, viện-trường và doanh nghiệp.
Phó Thủ tướng cũng nêu rõ, tồn tại lớn nhất hiện nay là các đề tài nghiên cứu ít xuất phát từ nhu cầu thực tế của nền kinh tế và thị trường. Trong giai đoạn 2021-2025, cả nước triển khai 42 chương trình với 4.800 nhiệm vụ KH&CN, sử dụng hết 17.000 tỷ đồng ngân sách nhà nước nhưng số lượng sản phẩm ra được thị trường và thương mại hóa thành công lại rất ít. Bức tranh xuất khẩu cũng bộc lộ điểm yếu công nghệ nội địa. Dù kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước đạt khoảng 84 tỷ USD, nhưng phần lớn vẫn là nông-lâm-hải sản và hàng gia công. Hơn 80% sản phẩm công nghệ cao xuất khẩu lại thuộc về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Tỷ lệ nhiệm vụ KH&CN có sự tham gia của doanh nghiệp còn rất thấp (cấp quốc gia chỉ đạt khoảng 12.5%, cấp địa phương khoảng 11%). Tâm lý e ngại trách nhiệm, lo ngại rủi ro vẫn bao trùm ở nhiều viện, trường. Bên cạnh đó, cả nước có hơn 20 sàn giao dịch KH&CN chào bán trên 62.000 công nghệ, nhưng chỉ có khoảng 750 nhà đầu tư tìm hiểu và vỏn vẹn 72 giao dịch thành công…
Để tạo chuyển biến thực chất, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương, viện, trường và doanh nghiệp phải thay đổi tư duy, tập trung triển khai ngay các nhóm giải pháp trọng tâm. Đó là Bộ KH&CN chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành đánh giá toàn diện năng lực của tất cả các cơ sở nghiên cứu, đại học trên cả nước để hình thành Cơ sở dữ liệu và bản đồ hệ thống cơ sở nghiên cứu quốc gia. Khi doanh nghiệp có nhu cầu công nghệ, chỉ cần truy cập bản đồ là biết chính xác địa chỉ, nhóm chuyên gia và hạ tầng có thể hợp tác (như ĐHQG Hà Nội, ĐHQG TP. Hồ Chí Minh, Đại học Bách khoa...).Đồng thời, các Bộ, ngành phải chủ động rà soát, xác định rõ danh mục bài toán KH&CN cần giải quyết của ngành mình theo lộ trình 1 năm, 3 năm và 5 năm (như Bộ Nông nghiệp và Môi trường phải đặt bài toán làm chủ công nghệ giống, nâng cao chất lượng sản phẩm...).
Ngoài ra, cần chuyển sang "giao gói kinh phí" và siết chặt tỷ lệ đề tài gắn với doanh nghiệp. Chuyển mạnh từ phương thức giao đề tài, nhiệm vụ nhỏ lẻ sang giao gói kinh phí trọn gói cho các đại học, viện nghiên cứu lớn (như Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, các Đại học Quốc gia...) để đơn vị tự chủ tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về sản phẩm đầu ra. Ngay trong giai đoạn tới (từ năm 2027), ít nhất 30% các đề tài nghiên cứu ứng dụng phải xuất phát từ bài toán thực tế của doanh nghiệp và có vốn đối ứng của doanh nghiệp. Tiến tới nâng tỷ lệ này lên tối thiểu 50%. Nếu đề tài không có địa chỉ ứng dụng hoặc không có doanh nghiệp cam kết tiếp nhận thì kiên quyết không phê duyệt (trừ lĩnh vực khoa học xã hội - nhân văn và nghiên cứu cơ bản).
Phó Thủ tướng cũng giao Bộ Tài chính phối hợp với Bộ KH&CN rà soát, tháo gỡ vướng mắc trong quy định mua sắm công. Nhà nước phải thực sự trở thành "người mua đầu tiên" đối với các sản phẩm công nghệ mới sản xuất trong nước đã qua kiểm chứng, giúp doanh nghiệp vượt qua "thung lũng chết" từ mẫu thử ra thị trường. Tập trung đầu tư, nâng cấp 8 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia với cơ chế mở để các doanh nghiệp có thể đưa nhân lực vào cùng nghiên cứu, thử nghiệm. Đề nghị các tập đoàn, doanh nghiệp chủ động trích lập Quỹ phát triển KH&CN, tăng cường đầu tư cho R&D, chủ động "bắt tay" với các trường đại học ngay từ khâu xác định bài toán, thử nghiệm đến sản xuất…
Thước đo duy nhất đánh giá thành công của chính sách là công nghệ phải được làm chủ, sản phẩm phải được thương mại hóa ra thị trường, doanh nghiệp phải lớn mạnh và năng suất lao động được nâng cao, đưa khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển nhanh, tự chủ và bền vững của đất nước.