Sóng sông Tiền

Dòng sông Tiền chảy qua đời người như một khúc ca buồn dài bất tận. Có những ngày nước êm ả như bàn tay mẹ ru con ngủ, trong veo, lấp lánh nắng sớm, lòng sông như đang mỉm cười với bao phận người mưu sinh. Nhưng cũng có những mùa nước lớn, con sông bỗng hóa thành mãnh thú, gầm gào cuốn phăng mọi thứ, như muốn trút hết giận dữ của đất trời xuống đầu những phận người bé nhỏ.

Trên dải nước mênh mang ấy, chiếc ghe ọp ẹp của gia đình Bảy Chài lênh đênh như chiếc lá khô giữa giông bão, mỏng manh, trôi dạt, tưởng chừng chỉ một cơn gió lớn là có thể chìm nghỉm vào lòng sông sâu.

Con sông ấy không chỉ là chốn nương thân, mà còn là nhân chứng lặng lẽ cho bao nỗi nhọc nhằn, cam chịu của những cuộc đời trôi nổi không bến đỗ. Trong cái mênh mông mặn chát của phù sa và nước mắt, có ba con người, một gia đình chẳng còn gì ngoài nhau, vẫn âm thầm nương tựa, cắm rễ giữa cuộc đời chông chênh như thân lục bình trôi. Họ sống không phải để tìm kiếm điều lớn lao, mà để níu giữ một chút hơi ấm người thân giữa cõi đời lạnh lẽo, như sợi rễ cuối cùng cắm sâu vào bùn lầy, níu lấy sự sống giữa chập chùng sóng gió.

Bảy Chài tên thật là Nguyễn Văn Liêm, người đàn ông gầy gò, da ngăm sạm, vai lúc nào cũng như còng xuống dưới sức nặng của năm tháng. Người xóm chài gọi ông là “Bảy Chài”, phần vì ông là con thứ bảy trong nhà, phần vì cái nghề chài cá gắn với ông như hơi thở từ khi mới biết cầm mái chèo.

Cha ông mất sớm, mẹ tảo tần nuôi đàn con bằng chiếc xuồng ba lá nhỏ như bàn tay. Lên mười hai tuổi, Bảy đã quen với cái lạnh buốt của sương khuya, cái đau nhói khi dẫm phải mảnh vỏ chai dưới bãi bồi, và cả cái mặn nơi khóe môi của mồ hôi, của nước sông, và của nước mắt.

Năm hai mươi sáu tuổi, Bảy tiễn mẹ đi trong một buổi chiều sông đục phù sa. Không một chiếc quan tài, không ai đến đưa tiễn, chỉ có một vuông chiếu cuốn tròn xác mẹ gửi vào lòng đất bên sông có tên gọi bãi bồi.

z7000823500371_adfa0577a27a408dab497b8e8016976b.jpg -0
Minh họa: Bùi Quang Đức

Út Lượm, người vợ gắn bó với Bảy Chài suốt hơn mười lăm năm lênh đênh sông nước. Út có một tuổi thơ không khác gì những vết lục bình trôi dạt. Mồ côi từ nhỏ, út được ông Tám Lửng, một lái ghe nhân hậu cưu mang, nuôi dạy bằng chút lòng tốt còn sót lại giữa chốn thương hồ nên đặt tên là Út Lượm.

Nhưng khi ông Tám mất, người thân như ong vỡ tổ ùa về chia gia sản, rồi hất văng cô con gái nuôi ra khỏi chiếc ghe như hất một món đồ bỏ đi. Mười chín tuổi, Út Lượm “lên bờ” lang thang giữa chợ cá, ngày thì lặt rau thuê, tối thì xin ngủ nhờ góc chợ.

Họ gặp nhau vào một buổi chiều muộn, ánh nắng cuối ngày rớt xuống mặt sông như những sợi tơ vàng sắp đứt. Ông Bảy ghé bến bán mớ cá vừa chia, cô Út thì đang xách thùng nước đi ngang. Một ánh nhìn, một câu hỏi đường, một nụ cười gượng, và rồi, hai con người tưởng chẳng còn gì để mất ấy lại tìm thấy nhau, như hai mảnh vỡ cuối cùng của một chiếc ghe gãy cần được hàn lại.

Họ về với nhau không áo cưới, không tiệc tùng. Chỉ có một nồi canh chua cá linh và chảo cá bống kho khô, ăn dưới ánh đèn dầu lập lòe đầu ghe.

Bạn bè ghé qua cụng chén, lời chúc mừng hòa vào tiếng ếch nhái kêu râm ran giữa đồng nước. Vậy mà họ sống với nhau bằng cái nghĩa chân thật và bền chặt như lớp rong bám rễ vào đá.

Rồi thằng Phúc ra đời, giữa một mùa nước nổi. Mẹ nó đau bụng sinh giữa buổi chợ nổi, không kịp tới trạm y tế. Bảy Chài xé áo làm khăn quấn cho con, nước mắt rơi đầy mặt, tay run run bồng đứa nhỏ đỏ hỏn mà cười như người trúng số:

- Nó là ánh sáng của cái đời tối mò của tụi mình đó em ơi…

Chú thì thầm với vợ, mắt hoe đỏ. Từ đó, chiếc ghe nhỏ thêm một thành viên, thêm tiếng cười, và thêm cả những tháng ngày vung chài không nghỉ.

Nhưng nghèo thì vẫn hoàn nghèo. Không hộ khẩu, không giấy tờ, không đất cắm dùi. Mỗi lần trời mưa, cả nhà phải che tấm bạt cũ, gió lùa một trận là nước tạt ướt hết chiếu nằm của cái chòi bên xứ bãi bồi.

Thằng Phúc lớn lên trong mùi mắm cá linh, tiếng mái chèo gõ vào thành ghe và những bữa cơm cá con kho quẹt. Nó lanh lợi, khôn trước tuổi, tự biết lặt cá, rửa chén, dọn lưới từ tuổi lên năm, lên bảy. Nhưng cái nó mong nhất, lại là điều tưởng chừng nhỏ bé, là được đi học.

Một đêm rằm, trăng soi lấp lánh trên sóng bạc, nó rúc vào lòng mẹ, nói khẽ:

- Mẹ ơi, con muốn đi học.

Út Lượm nghẹn lời, chỉ ôm con vào lòng. Câu nói đó như nhát dao khoét sâu vào lòng Bảy Chài. Chú từng ước được học, từng mơ được viết tên mình trên bảng đen, nhưng suốt tuổi thơ chú chỉ thấy những con số là số cá trong thùng, những con chữ là tên của ghe bạn. Giờ thằng con cũng ao ước điều đó, mà chú lại bất lực.

Đêm ấy, Bảy Chài thức trắng, nhìn ra sông. Dòng nước vẫn trôi, vô tình như bao năm. Nhưng trong lòng chú, có một thứ gì đó bắt đầu chuyển động như con nước đầu mùa, âm ỉ mà quyết liệt. Chú siết bàn tay lại, lặng thầm nghĩ: “Không thể để nó trôi như mình. Phải tìm cách…”.

Bảy Chài bắt đầu tìm một bến bờ mới, một nơi không phải chỉ có sóng nước, mà còn có con chữ, có hy vọng, và có cả tương lai cho đứa con trai nhỏ vẫn hằng đêm mơ giấc mơ bảng đen, phấn trắng.

*

Đêm đó, mùa nước lớn tràn ngập bờ bãi, từng giọt mưa như trút từ tầng trời, nặng trĩu, dội xuống mặt sông Tiền cuộn lên từng đợt sóng bạc đục ngầu. Những con sóng dữ dội quật mạnh vào mạn ghe cũ kỹ, như muốn bứt lìa mọi chỗ neo giữ, như muốn xóa nhòa mọi hy vọng mong manh của cuộc đời lênh đênh.

Trên cao, cây cầu Mỹ Thuận mờ ảo trong màn sương mưa dày đặc, ánh đèn vàng vọt xuyên qua lớp mưa dầm, nhòe nhoẹt dưới từng cơn gió rít lạnh lùng như tiếng hú ma quái giữa màn đêm. Mỗi tiếng sấm rền vang như một lời giận dữ từ trời đất trút xuống thân phận con người nhỏ bé, hèn mọn. Thế rồi, giữa cơn cuồng phong ấy, một bóng người bất ngờ rơi từ trên cầu xuống dòng sông đen ngòm và lạnh giá.

Chiếc ghe của gia đình Bảy Chài như cánh chim lướt qua sóng dữ, lao vun vút giữa dòng nước mưa và nước sông để tiếp cận bóng người ấy. Tiếng máy kole gằn lên, hòa cùng tiếng sóng gào thét, vang vọng cả một vùng trời đêm mịt mù. Những người bạn chài cũng nhanh chóng nhận ra bóng người, vội vã tăng tốc, lao đi như bị linh hồn thúc giục để kịp cứu lấy một mạng người giữa cơn thịnh nộ của thiên nhiên.

Người được cứu là cô gái trẻ, chỉ ngoài đôi mươi, ướt sũng, mềm oặt như bông hoa rũ dưới cơn mưa tầm tã. Giữa những phút giây giằng co dữ dội với thủy thần, khi mà sóng nước dường như muốn nuốt trọn mọi thứ, thì có lẽ trời cao cũng cảm thương, bỗng dưng mưa ngớt, cơn cuồng phong dịu lại như muốn ban cho cô một cơ hội sống sót.

Đêm đó, trên chiếc ghe rách nát của gia đình Bảy Chài, một sinh mạng mong manh đã được hồi sinh giữa biển nước mênh mông.

Sáng hôm sau, bến Bãi Bồi rộn rã tiếng người và quà cáp. Người thân của cô gái vội vã kéo đến, mang theo những lời cảm tạ nghẹn ngào. Họ kể cô gái ấy vừa mới tốt nghiệp đại học, nhưng cuộc đời không thương cho cô được trọn vẹn. Trong lúc mang trong mình một mầm sống mới, cô bị phụ tình, đau đớn đến mức muốn trốn tránh tất cả, để rồi đắm mình trong dòng sông Tiền lạnh lẽo.

Cha mẹ cô không giận, chỉ trách con gái sao không cởi lòng, sao không chia sẻ cùng họ. Họ nói, thời nay đâu còn giữ những quan niệm xưa cũ, một sinh linh mới thêm vào gia đình sẽ là nguồn sống, là niềm vui. Chỉ mong con bình an là đủ.

Cô gái khóc nức nở trong vòng tay cha mẹ, những giọt nước mắt chan hòa sự ân hận và thương yêu. Vợ chồng Bảy Chài cũng rưng rưng, bởi cha cô gái là một hiệu trưởng uy tín trong vùng. Ông đã hứa sẽ nhận đứa bé Phúc, con của Bảy Chài, vào trường mình, còn “giấy tờ tính sau,” như một lời hứa thầm thì giữa cuộc đời đầy thử thách, để giữ lại một chút niềm tin và hy vọng cho tương lai.

*

Dưới ánh nắng buổi sớm, mặt trời vừa ló ra khỏi rặng dừa nước, ánh sáng nhè nhẹ phủ lên mặt sông Tiền một màu vàng mật ong óng ả. Sương sớm chưa tan hết, còn lẩn quẩn nơi những mái nhà lá thấp thoáng bên rặng bần già, bên ghe thuyền đang neo lặng lẽ. Cả xóm chài như bừng tỉnh sau một đêm dài, và hôm nay, người ta thức dậy sớm hơn mọi ngày, nô nức kéo nhau về phía căn chòi nhỏ của gia đình Bảy Chài.

Tin vui lan nhanh như ánh chớp: thầy Hiệu trưởng đã đến, không chỉ để cảm ơn mà còn hứa sẽ xin chính quyền địa phương giúp dựng một căn nhà mới cho gia đình Bảy Chài, ngay gần mé bờ, nơi từng in dấu bao năm tháng tảo tần, mặn mòi sóng nước của hai vợ chồng lam lũ. Xóm chài xì xào, người mừng rỡ, người xúc động. Chưa bao giờ nơi đây có chuyện lớn lao như vậy. Một mái nhà tử tế, thứ tưởng như xa vời với gia đình sống kiếp lênh đênh.

Bảy Chài ngồi yên, như thể chẳng dám tin. Đôi mắt đỏ hoe, ươn ướt nước. Giây phút ấy, chú không còn là người đàn ông thô ráp, sương gió nữa, mà là một người cha, người chồng, đang vỡ òa trong hạnh phúc sau bao năm vật lộn cùng cơ cực. Chú quay nhìn vợ, nhìn con trai nhỏ đang ríu rít quanh chân thầy Hiệu trưởng. Đôi bàn tay chai sần từng kéo lưới giữa giông tố sông nước, nay từ từ buông thõng xuống, nhẹ nhõm, buông bỏ mọi gánh nặng.

Giọng chú nghèn nghẹn, gấp gáp:

- Tui… tui xin… cảm ơn thầy, cảm ơn bà con thương gia đình tui… Tui… hổng biết nói sao cho đủ… Chỉ cần thằng Phúc nó được đi học… là tui mừng dữ lắm…

Những tiếng nấc bật lên bất chợt, rồi vỡ òa như dòng sông dâng nước mùa lũ. Cả xóm chài bật cười mà mắt ai cũng hoe hoe. Có bà cụ già lắc đầu, miệng cười móm mém:

- Chú Bảy mày sương gió vậy mà mau nước mắt, khóc kiểu này con nít nó cười cho nghen! Vững bụng lên con, lo dọn nhà cũ để bà con còn dựng nhà mới chớ!

Chị Lượm, vợ Bảy Chài, thì cứ cúi đầu cảm ơn lia lịa, nước mắt lấm lem khuôn mặt khắc khổ. Còn thằng Phúc, đứa bé tóc cháy nắng, chân tay lem luốc, cứ chạy vòng vòng giữa đám đông, lúc thì khoe với thầy Hiệu trưởng bức tranh vẽ tay, lúc lại níu áo mẹ hỏi “nhà mới có cái giường hông má?”, miệng ríu rít như chim sẻ mùa xuân.

Thầy Hiệu trưởng hiền hậu xoa đầu Phúc, cười hiền:

- Từ nay con sẽ được ở nhà đàng hoàng, có sách có vở, có bàn học, có giường ngủ. Ba má con khỏi lo chuyện học hành của con nữa, thầy cô sẽ lo hết. Con chịu học ngoan là được!

Niềm vui như ngấm sâu vào từng nhịp thở của xóm nhỏ. Gió sông Tiền vẫn thổi mát rượi, mang theo hương ngai ngái của nước phù sa mới, len lỏi qua từng bụi sậy, từng vạt lục bình tím trôi lững lờ. Trên những mái ghe cũ kỹ, người ta bắt đầu tính chuyện giúp vợ chồng Bảy Chài dọn dẹp, góp tre, góp lá, góp cả tiếng cười rộn ràng để dựng nên một khởi đầu mới.

Ngày qua ngày, căn nhà mới dần hình thành. Không cao sang, không rộng lớn, nhưng đủ ấm, đủ vững. Mỗi khi ghe thuyền cập bến, người ta thấy thằng bé Phúc tóc cắt gọn gàng, áo trắng sạch tinh, tung tăng khoe bài vở, khoe điểm mười. Nó hay chạy ra đầu ngõ ôm lấy ba má vừa đi chài về, mặt mày hớn hở như bắt được cá lớn. Chị Lượm thì hay đem cá tươi biếu thầy cô, món quà quê mộc mạc thay cho lời tri ân. Bảy Chài ít nói, chỉ cười, nụ cười hiền khô và ánh mắt lúc nào cũng dõi theo con mình.

Sóng sông Tiền vẫn lặng lẽ cuộn trôi như bao đời. Dòng sông ấy chứng kiến bao phận người lênh đênh, giờ lại lấp lánh một đoạn đời đang dần sáng lên, từ một lời hứa nghĩa tình, từ một tấm lòng nhân hậu, từ những giọt nước mắt vui mừng của một người cha lam lũ.

Và trong sắc trời ban mai, tiếng học bài của thằng Phúc vọng ra từ căn nhà nhỏ. Một giọng đọc còn chưa tròn vành rõ chữ, nhưng đầy hy vọng: “Quê hương là chùm khế ngọt…”.

Truyện ngắn của Phan Thành Đạt

Các tin khác

Kẻ điên xem hát

Kẻ điên xem hát

Vào thời nhà Thanh, có một kẻ điên sống ở vùng Giang Nam rất mê xem hát kịch. Mỗi khi đi xem hát, hắn thường vừa xem vừa điên điên khùng khùng kéo ống quần của người khác lên nhìn, miệng còn ngâm nga điệu hát: “Chân vàng nhỏ, chân bạc xinh, kéo quần lên cho mình nhìn ngắm…”.

Đi qua dòng sông

Đi qua dòng sông

Giọng chị mơ hồ và hoảng hốt. Tôi ngước nhìn chị. Dưới ánh trăng, chị đẹp một cách lộng lẫy, như một bức ảnh nàng tiên cá tôi từng được thấy trên tờ họa báo. Làn tóc đen xõa xuống, đôi mắt to tròn lấp lánh. "Chị khổ lắm Hoàng ơi". Tôi khẽ đặt bàn tay lên vai chị: "Ta về thôi chị". Đêm ấy, bu tôi không về vì dì tôi trở bệnh.

Mây trời Huổi Chỏn

Phía ngoài, một khẩu lệnh đanh gọn. Ngay lập tức mũi đột phá gồm ba chiến sỹ cơ động lao thẳng về phía các đối tượng đang chặn đầu tiên, đẩy bật chúng về phía sau. Cực nhanh sau đó, từng tốp hai đồng chí lao vào đánh gục, tước vũ khí, khóa tay các đối tượng. Mấy chục đối tượng hàng sau, hung hãn cầm gậy gộc, vũ khí lao lên nhưng…  hự…ụp…  chúng hoảng loạn quay đầu bỏ chạy.

Vụ cháy hy hữu

Vụ cháy hy hữu

Có một người tên là Hồ Lai, lúc nào cũng nhàn rỗi chẳng có việc gì làm. Anh ta lười biếng và không làm bất cứ công việc nào cho tử tế. Bị gia đình thúc giục, anh ta vay mượn tiền và gom góp đủ để mua một chiếc xe máy cũ rồi bắt đầu buôn bán rau củ.

Không dễ dàng gì

Không dễ dàng gì

A Quý là người bán rau ngoài chợ. Hôm ấy vừa chập tối, anh thu dọn gian hàng đi về thì thấy mấy người hàng xóm đang đứng vây quanh một con chó bàn tán xôn xao.

Chuyện xảy ra trên tàu

Chuyện xảy ra trên tàu

Đoàn tàu khách địa phương dừng lại ở ga để đón tiễn hành khách. Trong số hành khách vừa lên tàu có một cô gái trẻ mặc bộ quần áo rất đẹp và hợp thời trang đang len qua các toa để tìm chỗ ngồi.

Những nẻo đường hoa

Những nẻo đường hoa

Bố làm quen với mẹ từ đó, mẹ cũng mở lòng nghe bố kể chuyện chiến tranh, bố kể cho mẹ nghe cả câu chuyện tình buồn của bố và cô Thảo. Cô ấy hứa sẽ đợi bố đi chiến trận trở về, chiếc khăn tay cô ấy tặng bố còn thêu hai chữ "đợi chờ" bằng sợi chỉ màu đỏ chói. Nhưng, năm 1973, cô ấy gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong, chiến tranh không cướp được bố, nhưng đã cướp mất cô Thảo trong một lần tải đạn ra chiến trường.

Mùa hoa trắng không trở lại

Mùa hoa trắng không trở lại

Em đến từ khi nào. Cánh tay em quấn chặt, vai tôi nóng rực, hơi thở dồn dập, đôi má ấm mềm như tan chảy, thấm dần vào từng mạch máu. Bờ môi căng mọng khẽ chạm, run run hòa vào nhịp tim thổn thức. Nụ hôn nồng nàn đưa tôi lạc giữa cánh đồng tam giác mạch phảng phất hương hoa trong gió núi.

Sương bên đá núi

Sương bên đá núi

Pháo nghe tiếng "rầm", vội cầm đèn pin chạy ra. Dưới ánh sáng vàng vọt, lão trưởng bản lồm cồm bò dậy, bộ áo chàm rách toạc một mảng ở vai, máu rỉ ra thẫm cả vạt vải. Mắt lão cứ trợn ngược nhìn vào vách đá tối om, mồm lầm bầm: "Nó phạt tao... Con ma dốc nó phạt tao thật rồi, Pháo ơi...".

Tiếng huýt sáo kỳ diệu

Tiếng huýt sáo kỳ diệu

Trương Tiểu Dũng bị gãy chân nên phải nhập viện. Trong thời gian này, do bị bó bột nên anh không thể đi lại, may sao trong phòng bệnh có cụ Trần cũng bị thương ở chân nên có thể cùng anh trò chuyện cho đỡ buồn.

Kẻ cắp siêu cấp

Kẻ cắp siêu cấp

Hắc Tam là kẻ cắp có uy tín nhất trong giới trộm cắp, kinh nghiệm “làm việc” nhiều năm đã giúp hắn phát triển được thị lực nhạy bén và khả năng phán đoán phi thường, một khi đã bị hắn nhắm tới thì không một “con mồi” nào có thể trốn thoát.

Làm bảo vệ cũng cần có kỹ năng

Làm bảo vệ cũng cần có kỹ năng

Đinh Tiểu Cương nhận bộ đồng phục bảo vệ, mặc vào và bắt đầu làm bảo vệ. Công việc của Đinh Tiểu Cương không mấy bận rộn, chỉ có việc đi dạo quanh khu phố. Cảm thấy bồn chồn, anh quyết định kiểm tra camera an ninh để xem ai đã lấy trộm cục pin của mình. Tuy nhiên, khi vào phòng giám sát, anh phát hiện chỉ có năm màn hình hiển thị hình ảnh; những màn hình còn lại đều bị hỏng.

Cây đào phai bên bờ rào đá

Cây đào phai bên bờ rào đá

Xóm nhỏ im ắng bỗng rộ lên khi hay tin A Châu bất ngờ trở về. Ai cũng nghĩ rằng A Châu đã không còn trên đời này nữa. Những vụ lật tàu, đắm tàu trên biển, người không rõ tung tích. Nghe đâu hồi đó A Châu cũng trên chuyến tàu ấy...

Trứng gà hàng xóm

Trứng gà hàng xóm

Ở một thị trấn yên tĩnh, có ông Vương và ông Lý là hàng xóm sát vách nhau. Hai nhà chỉ có một bức tường đất thấp ngăn cách với nhau, ngày qua ngày lại, quan hệ khá thân thiết.

Thảm kịch hôn nhân

Thảm kịch hôn nhân

Rồi cô gái trẻ cười hồn nhiên, còn Della lúc đó chỉ nghĩ đó là những chuyện phù phiếm. Vì Bishop quá đẹp còn Elise quá quyến rũ, chỉ những kẻ hẹp hòi mới thêu dệt nên chuyện ngoại tình. Bà đã từng tin như thế. Nhưng giờ đây bà hối hận vì đã tiễn Jakie đi.

Để người lớn làm việc

Để người lớn làm việc

Mùa gặt lúa mì trong mắt người dân thôn Hàm Cóc chẳng khác nào một cực hình. Không khí hầm hập, bụi bặm bám đầy lỗ chân lông, người ngợm lúc nào cũng dấp dính, ngứa ngáy. Thế nhưng, giữa cái làng ấy lại có một “dị nhân” luôn mong ngóng mùa gặt như trẻ con mong mẹ đi chợ về, đó chính là ông Ngô Lùn.

Căn nhà ở phía núi mù sương

Căn nhà ở phía núi mù sương

Căn nhà ấy luôn sáng đèn, ấm lửa những lúc chiều đông ảm đạm của miền rừng heo hút. Đó là nhà của vợ chồng thầy giáo Nam và cô Hồng, nhưng chỉ có cô dạy ở trường này, còn thầy Nam phải dạy xa hơn một chút, tận một bản sâu hơn của huyện miền núi. Cả hai thầy cô đều học cùng trường sư phạm và họ đã yêu nhau từ đó.

Ngọn lửa trong đêm

Ngọn lửa trong đêm

Ở nơi tưởng như vắng bóng người ấy lại có một ngọn lửa nhỏ vẫn sáng mỗi đêm. Ngọn lửa ấy tỏa ra từ căn nhà cấp bốn cũ kỹ, mái ngói thẫm màu rêu, nơi ông Sáu, một cựu chiến binh tình nguyện chọn làm chỗ nương thân khi bước vào tuổi xế chiều.

Nhớ chú Dìn

Nhớ chú Dìn

Đau đớn vì mất vợ con, nhà cửa chú Dìn phát điên, phát dại khá lâu mới trấn tĩnh được. Chẳng đủ sức phát nương, làm rẫy, chú Dìn đành phải lê cái thân tàn của mình đi khắp nơi ngửa tay ăn xin. Hàng năm vào dịp tết chú thường đi “Khai wài xuân” những mong đem may mắn cho mọi người.

Ghét của nào... trời trao của ấy

Ghét của nào... trời trao của ấy

Có đôi vợ chồng nọ lấy nhau đã lâu, cuộc sống vốn dĩ khá êm đềm nhưng cũng không hiếm những lúc cơm không lành, canh chẳng ngọt. Cứ mỗi bận nóng mắt vì anh chồng đi nhậu nhẹt say xỉn, cô vợ lại được đà xỉa xói: