Vụ án xảy ra tại Viện Pháp y tâm thần Trung ương đã kết thúc vào chiều muộn 7/10, TAND TP Hà Nội đã ra phán quyết nghiêm khắc đối với các bị cáo. Trong đó bị cáo chủ mưu, cầm đầu Nguyễn Thị Mai Anh (có 7 tiền án) bị tuyên phạt mức án cao nhất là 30 năm tù về các tội “Đưa hối lộ”, “Môi giới hối lộ” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Cựu Viện trưởng Viện Pháp y tâm thần Trung ương Trần Văn Trương bị tuyên phạt 20 năm tù về tội “Nhận hối lộ”. Các bị cáo khác tùy theo mức độ phạm tội mà bị tuyên phạt từ 12 tháng tù treo đến 19 năm tù.
Nhận thấy vụ án xảy ra tại Viện Pháp y tâm thần Trung ương có nhiều lỗ hổng trong công tác quản lý, TAND TP Hà Nội đánh giá, đây là vụ án đặc biệt nghiêm trọng, không chỉ bởi sai phạm kéo dài nhiều năm tại một cơ sở giám định liên quan trực tiếp đến hoạt động tư pháp, mà còn vì hàng loạt cán bộ, bác sĩ, điều dưỡng, người làm trong cơ quan tố tụng cùng bị cuốn vào vòng xoáy tiền bạc và lợi ích.
Ngoài hành vi nhận tiền để tạo điều kiện cho can phạm, vụ án còn chỉ ra kẽ hở pháp lý như: Thời gian chữa bệnh bắt buộc được trừ vào thời hạn chấp hành án. Chính quy định mang tính nhân văn này bị một số người lợi dụng để “chạy” kết quả giám định tâm thần, qua đó các can phạm đã trốn tránh được nghĩa vụ phải chấp hành án, chấp hành pháp luật.
Sau khi chỉ ra những kẽ hở pháp lý qua vụ án, TAND TP Hà Nội kiến nghị Bộ Công an và Bộ Y tế một số nội dung. Theo đó, một trong những lỗ hổng lớn nhất ở khâu quản lý can phạm đang điều trị bắt buộc. Trước khi vào viện, các can phạm được các lực lượng chuyên trách giam giữ, kiểm soát bằng nhiều biện pháp; nhưng khi họ được chuyển sang điều trị bắt buộc, trách nhiệm trực tiếp lại thuộc về bác sĩ, điều dưỡng, chứ không phải Công an.
Như vậy, chốt chặn để kiểm soát các can phạm lại chỉ là những người được đào tạo chuyên môn về y tế, không có nghiệp vụ đối phó người phạm tội, không có công cụ hỗ trợ, cũng không có lực lượng chuyên trách kiểm soát tội phạm bên cạnh.
Có trường hợp, khi bác sĩ, điều dưỡng hoặc nhân viên y tế không đáp ứng yêu cầu ra ngoài của bệnh nhân thì bị tấn công. Theo lời khai của các điều dưỡng, việc họ bị hành hung gần như khó tránh, vì người hành hung họ được xem là đang mắc bệnh tâm thần.
Thực tế vụ án cũng cho thấy, bảo vệ của viện-vị trí được coi là “chốt chặn cuối cùng” đối với can phạm có ý định ra khỏi viện hoặc bỏ trốn lại do 4 bảo vệ có tuổi đời từ 62 đến 69 đảm nhiệm. Như vậy, không thể đảm bảo rằng, họ có thể ngăn chặn được can phạm nếu can phạm chủ động bỏ ra ngoài hoặc bỏ trốn.
Từ những phân tích trên, TAND TP Hà Nội đề nghị Bộ Công an đưa các cơ sở giám định tâm thần, chữa bệnh bắt buộc vào danh mục đơn vị, mục tiêu cần bảo vệ; bố trí lực lượng vũ trang và giám sát 24/24h để bảo đảm an ninh, an toàn.
Cũng theo kiến nghị của TAND TP Hà Nội, hiện chưa có cơ chế giám sát đủ mạnh đối với kết quả giám định tâm thần. Cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phụ thuộc vào kết luận của các viện pháp y, trong khi chưa có một hội đồng cấp cao hơn để thường xuyên giám sát, xem xét lại hoặc hủy kết quả khi xuất hiện dấu hiệu thiếu khách quan.
Một bất cập khác là các thành viên hội đồng giám định thường cùng thuộc một đơn vị. Khi cùng chịu chung cơ chế quản lý, tính độc lập trong chuyên môn có thể bị ảnh hưởng.
Theo quy trình hiện nay, khi có quyết định trưng cầu giám định, viện trưởng sẽ phân công hội đồng giám định gồm ba người: Một người chủ trì, một thành viên và một thư ký. Kết quả được lập trên cơ sở thăm khám trực tiếp, cả ba cùng ký xác nhận; nếu có ý kiến khác nhau phải ghi rõ trong kết luận.
Nhưng qua vụ án này cho thấy, có trường hợp cả ba thành viên cùng nhận hối lộ để làm sai lệch kết quả trong 26 vụ án, hướng dẫn can phạm “diễn triệu chứng tâm thần” rồi thống nhất ký kết luận mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Để khắc phục tình trạng này, TAND TP Hà Nội kiến nghị Bộ Y tế quy định, Hội đồng giám định phải có thành viên đến từ các đơn vị, cơ sở y tế khác nhau, nhằm tăng tính độc lập và hạn chế ảnh hưởng từ cơ chế nội bộ.
TAND TP Hà Nội cũng kiến nghị, đối với những trường hợp bỏ điều trị, bỏ trốn hoặc có biểu hiện bất thường trong quá trình chữa bệnh bắt buộc, cần xem xét tái giám định trước khi tiếp tục kết luận mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi hoặc áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc.