Day dứt bởi lời thề trước ngày nhập ngũ
Tháng 12 năm 1993 những cơn gió rét kéo dài lạnh thấu xương như muốn con người ta phải nản lòng chùn bước trước thiên nhiên khắc nghiệt, thì lúc ấy thương binh 4/4 Lê Quang Luận, phường Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội lại vác ba lô bắt đầu thực hiện cuộc hành trình trở về chiến trường năm xưa đi tìm đồng đội đã hy sinh anh dũng cho Tổ quốc thân yêu.
Ngày ấy gia đình ông còn nghèo lắm, vẫn đang ở tạm trong ngôi nhà cấp 4 dột nát của khu nhà tập thể ở cơ quan vợ. Dù cuộc sống kinh tế chật vật khi hai con bắt đầu đến tuổi đi học nhưng ông vẫn quyết tâm ra đi.
Từ ngày vác ba lô từ chiến trường trở về với cuộc sống thường nhật, vui vầy bên gia đình và lo toan cơm áo, gạo tiền nhưng ông thú thực với tôi rằng chưa có lấy một ngày lương tâm ông được thanh thản. Các anh em, đồng chí còn đang nằm đâu đó ở chiến trường năm xưa đang đợi ông đón về quê hương.
Ngày ấy khi biết được tâm nguyện của ông, bà Trần Thị Thực không hề can ngăn dẫu trong lòng bà rất lo lắng cho sức khỏe của chồng vì bất cứ lúc nào vết thương cũng có thể tái phát. Cũng là người lính Cụ Hồ, cũng từng tham gia mở đường cho chiến dịch, phục vụ cách mạng, bà cũng đã tận mắt chứng kiến biết bao đồng đội của mình ngã xuống khi đang làm nhiệm vụ, nên bà hiểu được nỗi lòng và tâm tư của ông về những đồng đội đã hy sinh.
Ngày ông lên đường vào chiến trường xưa, bà cố giấu đi những giọt nước mắt lo lắng và tháo chiếc nhẫn hai chỉ vàng - là kỷ vật của ông bà, cũng là tài sản duy nhất và có giá trị nhất với gia đình ông lúc bấy giờ đưa cho ông làm lộ phí lên đường. Bà ngậm ngùi chia tay ông, nhắc nhở ông nhớ giữ gìn sức khỏe và luôn cầu chúc cho chuyến đi của ông may mắn tìm được các đồng đội trở về.
Khi dòng người đang đổ về các nẻo đường của quê hương để lo sắm tết và vui vầy bên gia đình thì ông bắt xe vào chiến trường Quảng
Giữa năm 1967 sau cuộc ném bom điên cuồng của Mỹ xuống miền Bắc, trong đó Làng Đơ, xã Hà Trì của ông tan tác tiêu điều. Đâu đâu cũng thấy những cảnh nhà tan cửa nát, bao nhiêu dân thường vô tội đã chết trong trận ném bom ấy. Những chàng trai Làng Đơ khi ấy tuổi đang thanh xuân căng đầy sức sống cùng với một ý chí chiến đấu kiên cường đã viết đơn tình nguyện ra chiến trường để giết giặc bảo vệ quê hương.
Trước ngày nhập ngũ 6 thanh niên Làng Đơ chưa vợ đã ngồi dưới mái đình Hà Trì quyết thề rằng "Chúng mình ra đi quyết hy sinh đến cùng cho Tổ quốc thân yêu. Dù gian nan, khổ cực đến đâu thì không đứa nào được đào ngũ hay đầu hàng giặc xâm lược. Cuộc chiến tranh ác liệt, đứa nào may mắn còn sống trở về phải có nhiệm vụ với gia đình người đã chết và phải đưa bằng được hài cốt của anh em trở về". Và lời thề ấy đã theo họ suốt bao nhiêu năm tháng của cuộc chiến tranh ác liệt.
Những ký ức của năm tháng chiến đấu
Ngày đầu vào quân ngũ, ông Lê Quang Luận được điều vào chiến đấu trực tiếp tại Tiểu đoàn 17 Thông tin, Sư đoàn 2, Quân khu 2.
Chiến dịch đầu tiên ông tham gia là cuộc tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968. Trong chiến dịch này đồng đội của ông đã hy sinh anh dũng rất nhiều, không những thế ông còn nhận được tin người bạn, người đã thề cùng ông trước khi lên đường chiến đấu đã hy sinh anh dũng trên đỉnh núi Pùm Pun là Nguyễn Đức Nhuệ. Đó là nỗi đau đớn và mất mát đầu tiên mà ông phải chứng kiến trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt. Cũng từ đây ông hiểu rằng để có được ngày về khi quê hương hòa bình thì những người lính như ông sẽ phải đối mặt với sự hy sinh, mất mát nhiều hơn thế.
Và nỗi đau đớn nhất luôn làm ông day dứt cho đến tận bây giờ mà ông kể cho tôi nghe là chuyến đi lấy lương thực do ông là đội trưởng phụ trách gồm 20 người. Đó là sau Chiến dịch Tết Mậu Thân năm 1968, cấp trên quyết định mở chiến dịch đánh vào khu căn cứ Khâm Đức của huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng
Để chuẩn bị đầy đủ lương thực cho bộ đội chiến đấu, ông đã chỉ huy 20 người trong đơn vị xuống núi qua dốc Trà Bồng để lấy lương thực, thực phẩm tại Ấp Tịnh Thọ của huyện Sơn Tịnh. Nhưng kế hoạch đã không may bị lộ và bị quân Mỹ phục kích. Trước tình thế nguy hiểm đó ông đã cho giãn quân để đánh lạc hướng của kẻ thù. Nhưng do quân địch đông lại trong thế chủ động với vũ khí đầy đủ nên hai đồng chí đã bị chúng bắt và bắn chết ngay tại chỗ, trong đó có một nữ báo vụ.
Nén đau thương chờ cho đến khi quân giặc rút đi, ông đã đến bên nữ y tá báo vụ, cởi áo đang mặc trên người đắp cho người đồng đội đã hy sinh và mang đi chôn cất tử tế và không quên đánh dấu để sau này hòa bình có thể lên tìm được mộ và đưa về gia đình.
Đến tháng 9 năm 1969, trong lần đi lấy gạo lần thứ hai tại xã Tịnh Đông, do ông chỉ huy một lần nữa bị giặc Mỹ phục kích bắn pháo ác liệt. Lần này đội của ông bị tổn thất rất nhiều, không những không thể đem gạo được về cho đơn vị mà nhiều đồng đội đã ngã xuống anh dũng. Riêng bản thân ông thì bị rơi xuống một hố lớn khi bị giặc phục kích và phát hiện ra.
Khi chiếc máy bay chiến đấu và những tên giặc Mỹ đang lăm lăm tay súng trên miệng hố yêu cầu ông leo lên bằng thang dây mà chúng đã thả xuống từ máy bay. Biết rằng khó có thể thoát thân được, lại không muốn bị rơi vào tay giặc, trong ranh giới mong manh giữa cái chết cận kề ông đã từng ngước mắt lên nhìn bầu trời trong xanh của quê hương Việt Nam mà thầm gọi tên người mẹ thân yêu của mình ở quê nhà, nhớ đến lời thề cùng đồng đội trước khi lên đường chiến đấu và coi cái chết cận kề nhẹ tựa lông hồng.
Với quả lựu đạn mang theo phòng thân khi đi lấy gạo trong tay, ông đã giật ngòi rồi ném lên miệng hố cho phát nổ, trong tích tắc ông cảm thấy như thân thể mình hòa với cát bụi của quê hương. Nhưng sau tiếng nổ kinh hoàng ông vẫn thấy mình còn sống sót, biết đây là cơ hội để thoát chạy ông đã nhanh leo lên miệng hố, lợi dụng khi cát bụi và khói đen mù mịt ông đã chạy thẳng vào trong rừng thoát được vòng vây của giặc.
Khi tỉnh dậy ông đã thấy đồng đội vây quanh mình, lúc này ông mới biết rằng do sức mạnh công phá từ quả lựu đạn ông ném lên miệng hố về phía địch mà máy bay chiến đấu của chúng đã nổ tung cùng xác mấy tên giặc Mỹ. Mừng vì mình còn sống trở về để chiến đấu bảo vệ quê hương nhưng một lần nữa ông lại đau đớn khi phải chôn cất chính những đồng đội của mình đã hy sinh trong trận này.
Trong quá trình đợi bình phục để trở về đơn vị, tại con sông Giang ông đã may mắn gặp người bạn học phổ thông cũng là người cùng quê là Nguyễn Văn Hạnh. Hai người bạn thân được gặp nhau giữa nơi bom đạn của chiến trường mừng mừng tủi tủi ôm lấy nhau khóc. Đột nhiên người bạn Hạnh nói với ông rằng "Lần này đi đánh trận ở Minh Long, mày về báo tử giúp tao". Tưởng rằng đó chỉ là câu nói bông đùa của bạn, ông Luận không ngờ chỉ hơn một tháng sau lại được tin đồng chí Hạnh đã hy sinh anh dũng khi anh dũng ôm khẩu trung liên xông lên tiến thẳng vào quân địch. Nhớ lại lời nói hôm trước ông cảm thấy đau đớn vô cùng.
Hai tháng sau, vì có thành tích tiêu diệt được một máy bay chiến đấu của giặc nên ông Luận đã được trao tặng Huân chương Chiến công hạng 3. Sau đó ông được điều lên chiến đấu tại chiến trường Tây nguyên.
Ông còn nhớ cũng vào cuối năm 1969 khi giặc Mỹ tổ chức các cuộc càn quét, lấn chiếm đất để đi sâu vào nhân dân, ông lại được nhận nhiệm vụ chống lại cuộc càn quét đó của giặc Mỹ tại Trà My. Trong chiến dịch này ông chỉ huy một tiểu đội khoảng 30 người chống càn của địch và đã dũng cảm tiêu diệt được rất nhiều tên địch, làm thất bại hoàn toàn cuộc càn quét đó.
Sau chiến công vang dội này ông đã được phong tặng danh hiệu "Dũng sỹ diệt Mỹ" và Huân chương Chiến công hạng 3 lần thứ hai.
Cũng tại chiến trường giữa những mất mát, hy sinh, đau đớn nhưng đầy oai hùng, ông Luận tìm được tình yêu của mình với một nữ văn công xinh đẹp. Nhưng buồn thay khi tình yêu của ông và người con gái vừa chớm nở, hai người vừa kịp trao lời hẹn ước đợi đến ngày độc lập sẽ xây dựng hạnh phúc thì người con gái ấy đã vĩnh viễn ra đi vì bị nhiễm chất độc điôxin… Ông không ngờ ngày ông biết được quê nhà người yêu cũng là ngày ông nhận được lá thư thay cho lời chia tay cuối cùng vĩnh viễn này. Cho đến bây giờ, lá thư ấy như một kỷ vật thiêng liêng vô cùng quý giá mà ông luôn giữ bên mình.
Cuộc hành trình tìm lại những người bạn trở về…
Vác ba lô trở về quê hương sau ngày đất nước hòa bình. Càng cố quên thì những lời thề, lời hứa càng làm ông day dứt, đau đớn. Khi chứng kiến trên tivi mục nhắn tìm đồng đội ông lại thấy mình có lỗi. Biết bao nhiêu chiến sỹ đã ngã xuống cho quê hương, và biết bao chiến sỹ may mắn được tìm thấy đón về. Trong số đó có 2 người bạn của ông mà không bao giờ ông quên được những phút giây định mệnh ấy. Không thể quên được lời thề ngày xưa, không thể chịu nổi khi nghĩ rằng đồng đội của mình còn đang nằm lạnh giá đâu đó trên những cánh rừng già. Và ông đã lên đường để thực hiện lời hứa sinh tử năm xưa được đưa các đồng đội trở về nơi quê cha đất tổ.
Chuyến đi đầu tiên của ông vào cuối năm 1993 là đi tìm hài cốt của liệt sỹ Nguyễn Văn Hạnh. Ông trở lại chiến trường xưa ở Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, nơi liệt sỹ Hạnh đã yên nằm hơn 25 năm qua. Thời gian trôi đi cảnh tượng năm xưa đã thay đổi, địa điểm của căn cứ cách mạng năm xưa đã không còn dấu vết. Lần tìm theo trí nhớ đến nơi người bạn Hạnh đã nằm năm xưa thì hoang tàn không còn dấu tích.
Để biết được chính xác thông tin về vị trí ngôi mộ năm xưa, ông Luận đã tìm đến những cựu chiến binh từng chiến đấu tại đó với hy vọng có thể tìm được Hạnh. Và may mắn người dân ở đó cho ông biết rằng sau khi chôn cất mộ liệt sỹ Hạnh đã bị bom B52 ném gần trúng nên bị sới tung cả mộ nhưng hài cốt còn nguyên vẹn. Thương tình, một người dân ở đó đã đưa về chôn ở sau vườn nhà. Đến sau ngày giải phóng, mộ liệt sỹ Hạnh được đưa về nghĩa trang của huyện Nghĩa Hành.
Ngày đưa được hài cốt của liệt sỹ Hạnh về với quê hương, ông đã không kìm được xúc động, hai hàng nước mắt cứ thế tuôn trào. Thắp nén nhang cho bạn ông thành tâm tạ lỗi vì bây giờ mới thực hiện được lời hứa năm xưa rồi vội vàng bắt xe trở về.
Sau lần đi đưa hài cốt của liệt sỹ Nguyễn Văn Hạnh trở về sức khỏe của ông đã suy giảm nhiều. Phần vì tuổi đã cao lại vết thương trên đầu hành hạ. Ông đành phải ở nhà để dưỡng thương, lấy lại sức khỏe. Khi biết ông lại có ý định lên đường, những người đồng đội cũ đã can ngăn vì họ lo cho sức khỏe của ông ngày một yếu đi. Nhưng ông nói rằng sau khi đưa được hài cốt của liệt sỹ Hạnh trở về ông thấy khỏe hơn rất nhiều. Ông cản thấy mình cần phải lên đường, vì còn một người bạn thân thiết của ông đang nằm lại một mình nơi chiến trường xưa đã gần 30 năm nay.
Đến năm 1996 khi sức khỏe bình phục ông lại vác ba lô lên đường tìm hài cốt liệt sỹ Nguyễn Đức Nhuệ - người đã cùng ông thề dưới mái đình làng Đơ thân yêu trước ngày nhập ngũ. "Chuyến đi tìm mộ liệt sỹ Đức Nhuệ là khó khăn vất vả nhất. Phải đi lại ngược xuôi đến lần thứ 3 mới tìm được cậu ấy…" ông Luận kể.
Năm ấy ông vào chiến trường xưa thuộc huyện Phước Sơn, Quảng
Cuối cùng ông trời cũng không phụ tấm lòng của người bạn tri kỷ, qua 3 lần ngược xuôi tìm kiếm đầy gian nan trên đỉnh núi Pùn Pum, ngôi mộ liệt sỹ Đức Nhuệ đã được tìm thấy.
Trong suốt gần 20 năm qua, thương binh Lê Quang Luận không chỉ đưa hai hài cốt liệt sỹ là những người bạn năm xưa trở về. Mà trên đường tìm kiếm hai người bạn thân của mình, ông đã phát hiện ra rất nhiều ngôi mộ liệt sỹ khác và thông báo cho gia đình họ biết, sau đó chính ông lại là người bốc hài cốt của các liệt sỹ đó đưa về. Danh sách các liệt sỹ được ông đưa về ngày một nhiều hơn ở khắp các địa phương như Hà Nội, Thái Bình, Hà
Điều đáng nói ở đây là gần 20 năm qua ông làm công việc này đều xuất phát từ tấm lòng chung nghĩa của người lính Cụ Hồ. Tất cả chi phí cho các chuyến đi ông đều tự xoay xở chứ không hề nhận bất cứ một khoản hậu tạ nào từ phía các gia đình liệt sỹ. Mỗi lần đưa được hài cốt các liệt sỹ về, ông thấy lòng mình thanh thản hơn, và lạ thay tuổi càng cao thì ông lại cảm thấy sung sức.
Đưa cho tôi quyển nhật ký chiến trường, ông lật từng trang viết, từng bức ảnh chụp chung với đồng đội, từng trận đánh. Ông nói rằng đây là món quà mà ông yêu quý hơn cả bản thân mình. Nó hiện thân cho cả một thời oai hùng đầy máu và nước mắt của ông và các đồng đội cùng chiến đấu.
Kết thúc câu chuyện của mình, ông cho tôi biết rằng đến giữa năm nay ông lại vào chiến trường năm xưa để tiếp tục cuộc hành trình tìm đồng đội. Ông cười hiền hậu mà kiên quyết rằng, khi nào đôi chân không thể đi nổi ông mới chịu thôi. Ông bảo, đó là việc làm mà ông thấy có ý nghĩa nhất của cuộc đời mình