Công nghệ chiến tranh điện tử mới của Mỹ
Trong cuộc chiến tranh do Mỹ tiến hành tại
Nhưng bất lợi lớn nhất của máy bay tàng hình là khi bị kẻ thù phát hiện, các mẫu máy bay tàng hình hiện đại nhất hiện nay (F-117 và B-2) đều thiếu các thùng chất đốt phụ, do nhiệt độ từ khí thải của chúng có thể làm tăng mặt cắt ra đa và các dấu vết nhạy cảm với tia hồng ngoại của máy bay. Vì bất lợi đó mà các phi cơ này không thể vượt qua tốc độ âm thanh mà tẩu thoát một cách nhanh chóng.
Điều này khiến chúng dễ bị tấn công bởi các máy bay đánh chặn, loại máy bay có khả năng đạt tới tốc độ Mach 2 (tốc độ siêu thanh 2) hoặc cao hơn nhờ có thùng chất đốt phụ. Hình dạng kỳ dị của các máy bay tàng hình còn làm giảm đi sự nhanh nhẹn của chúng trong các cuộc không chiến, và do vậy, làm tăng nguy cơ bị tiêu diệt của chúng bởi pháo tự động từ các phản lực cơ truyền thống, cho dù mặt cắt ra đa thấp và lá chắn hồng ngoại có hiệu quả thế nào đi chăng nữa trong việc ngăn chặn khả năng khóa mục tiêu của tên lửa.
Về hỏa lực, chiếc F-117 có thể mang theo hai quả tên lửa không-đối-không để tự vệ, nhưng thường không hiệu quả (hệ quả của tính linh hoạt thấp); chiếc B-2 thì không thể mang theo bất kỳ một loại vũ khí không-đối-không nào. Các máy bay tàng hình còn có nguy cơ bị phát hiện một cách tức thì trước, trong khi và sau khi nó sử dụng vũ khí.
Bởi vì các đầu đạn tàng hình (các loại bom có giảm mặt cắt ra đa và tên lửa hành trình) nói chung là vẫn chưa có sẵn, nên tất cả các loại quân trang cho máy bay đều phải được mang ở bên trong thân máy bay để tránh việc tăng mặt cắt ra đa. Ngay khi cửa chứa bom được mở ra, chỉ số RCS của máy bay sẽ tăng gấp bội và thậm chí một hệ thống ra đa đời cũ cũng có thể xác định được vị trí của nó. Từ khi xuất hiện các loại máy bay tàng hình, nhiều quốc gia trên thế giới đã ngay lập tức bắt tay vào việc phát triển các loại ra đa thế hệ mới, các thiết bị dò tìm để có thể chống lại các cuộc tấn công bất ngờ.
Nhận thấy những điểm yếu cần khắc phục sẽ tốn không ít tiền bạc mà hiệu quả chưa chắc đã được như ý khi sử dụng các loại máy bay tàng hình, nên từ lâu người Mỹ đã bắt đầu nghiên cứu và phát triển một loại máy bay được gọi là "phi cơ tấn công điện tử". Đề án nghiên cứu, phát triển và đưa ra ứng dụng loại phi cơ này được Lầu Năm Góc giao cho hãng Boeing thực hiện.
Trong một báo cáo tháng 4/2006, Văn phòng giải trình Chính phủ Hoa Kỳ đã thể hiện mối bận tâm rõ ràng tới mẫu máy bay này, vì EA-18G rõ ràng là không hoàn toàn tiếp cận trên cơ sở hiểu biết vốn có trong những thực tiễn tốt nhất và Bộ Quốc phòng sẽ chỉ đạo tiếp nhận, chương trình có sự mạo hiểm ngày càng lớn do chi phí ngày càng tăng và sự trì hoãn những chương trình tương lai.
Báo cáo khuyến cáo rằng Bộ Quốc phòng nên xem xét lại việc mua thêm ICAP III nâng cấp bổ sung cho những chiếc EA-6B hiện nay và những chiếc sắp hết hạn sử dụng, tổ chức lại những kế hoạch sản xuất EA-18G ban đầu để thu được những kết quả sau khi máy bay đã chứng minh khả năng đầy đủ.
Hải quân Hoa Kỳ đã đặt mua tổng công 57 chiếc EA-18G để thay thế cho những chiếc EA-6B Prowler hiện nay trong biên chế, tất cả những máy bay này được đặt tại căn cứ không lực hải quân Whidbey Island, chúng được trang bị cho Phi đội dự trữ VAQ-209 có căn cứ tại căn cứ không lực Washington. Bộ quốc phòng Hoa Kỳ đã phê chuẩn cho chương trình EA-18G để bắt đầu sản xuất với nhịp độ chậm ban đầu vào năm 2007. Công việc sản xuất đầy đủ được bắt đầu từ năm 2008.
EA-18G trong lịch trình hoạt động của mình thì nó đã kết thúc bay thử nghiệm vào năm 2008, sau đó có được khả năng hoạt động ban đầu trong năm 2009 và rất thành công trong những năm tiếp theo. Hải quân Mỹ đã mua 90 chiếc để trang bị cho 10 phi đội của mình.
Growler có chung hơn 90% thiết kế của Super Hornet, nó dùng chung khung máy bay, ra đa AESA và hệ thống vũ khí như Hệ thống quản lý tích trữ AN/AYK-22. Pháo Vulcan 20mm đã bị loại bỏ khỏi phần mũi để thêm vào hệ thống điện tử (và các phần khác của khung máy bay cũng vậy), máy thu ALQ-218 được lắp ở đầu cánh, ngoài ra còn có máy ALQ-99 là máy làm nhiễu ở dải tần số cao và tần số thấp. Thiết bị làm nhiễu và những thùng nhiên liệu phụ cũng được tăng thêm, mặc dù như vậy, EA-18G có tầm hoạt động dài hơn và thời gian trên không cũng tăng thêm.
EA-18G được trang bị với 5 thiết bị gây nhiễu chiến thuật ALQ-99, thêm 2 tên lửa để tự vệ AIM-120 AMRAAM, hai tên lửa chống bức xạ tốc độ cao AGM-88 HARM. EA-18G cũng sử dụng hệ thống xóa bỏ gây nhiễu INCANS, hệ thống này cho phép truyền thông tin bằng tiếng nói trong nội bộ, trong khi hệ thống thông tin của đối phương bị nhiễu, một khả năng không có trên EA-6B.
Những chiếc EA-18G mang tên lửa AIM-120 AMRAAM để tự vệ và hai tên lửa AGM-88 HARM hoặc tên lửa AGM-88E AARGM (Advanced Anti-Radiation Guided) để tiêu diệt các đài ra đa của đối phương. Hãng Boeing vẫn luôn trông đợi vào những hợp đồng nâng cấp tiềm năng khác, thiết bị gây nhiễu ra đa AN/ALQ-99 có thể được thay thế trong tương lai, và công ty đã trông vào những hợp đồng cung cấp vũ khí và thay thế các thiết bị thu thông tin vệ tinh.
Máy bay điện tử tại chiến trường
Sau khi Mỹ, Anh, Pháp đồng loạt tấn công Libya, các nước này đã nhanh chóng giành ưu thế vượt trội trước lực lượng không quân lạc hậu của Tổng thống Muammar Gaddafi. Nếu lực lượng không quân của Tổng thống Gaddafi dám coi thường lệnh cấm bay của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc thì lực lượng này chắc chắn sẽ bị bắn tan tành thành từng mảnh.
Kể từ những năm 80 thế kỷ trước, do tình trạng mua bán thiết bị lộn xộn, bảo dưỡng kém cùng với công tác đào tạo không đầy đủ đã khiến phi đội lớn mạnh gồm hơn 400 máy bay tấn công hạng nhẹ, máy bay ném bom và trực thăng vũ trang của Libya giờ chỉ còn là một phi đội lạc hậu với lèo tèo vài chục chiếc máy bay.
Những thứ còn lại trong Không lực Libya hầu hết là máy bay ném bom Sukhoi Su-22 và Mig-23 cùng với một vài chiếc máy bay tấn công hạng nhẹ Jastreb do Nam tư cũ sản xuất từ cuối những năm 60 thế kỷ trước. Nhiều trong số này đã bị quân nổi dậy phá huỷ trong các cuộc giao tranh trong tháng đầu ở
Ngoài những chiếc máy bay chiến đấu, chính quyền của ông Gaddafi cũng sở hữu khá nhiều máy bay đánh chặn như MiG-21 và MiG-25, cũng đều từ những năm 1960. Hệ thống phòng không tầm xa của Libya cũng trong tình trạng tương tự, chủ yếu dựa vào 200 giàn phóng tên lửa từ lâu đã được xem là rất lạc hậu và lỗi thời.
Một điều tra gần đây của Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược có trụ sở ở thủ đô Washington, Mỹ, đã cho kết quả, không lực Libya đang phải đối mặt với vấn đề lớn về đào tạo phi công và mất một số máy bay trong các tai nạn và do tình trạng hao mòn. "
Rõ ràng, với lực lượng không quân có phần lạc hậu và yếu kém như trên,
Tuy nhiên, theo các nhà phân tích, phương Tây không nên coi thường những loại súng phòng không, tên lửa tầm ngắn hạng nhẹ và tên lửa vác vai mà Libya đang sở hữu. Đây là những loại vũ khí được chứng minh là hoạt động rất hiệu quả trong cuộc chiến tranh ở Kosovo.
Chưa hết,
Lực lượng liên quân cũng có thể sẽ phải đối mặt với khó khăn từ hàng chục chiếc trực thăng tấn công Mi-24 và trực thăng đa năng Mil Mi-17. Như kinh nghiệm ở Bosnia cho thấy, rất khó cho những chiếc máy bay bay cao và nhanh chặn được những chiếc máy bay bay thấp như Mi-24 và Mil Mi-17.
Ngoài ra, các chuyên gia cũng cho rằng, rất khó có được một sự đánh giá chính xác và toàn diện về năng lực và sức mạnh quân sự của Libya, nhất là sau khi một số phi công chạy ra khỏi đất nước không chỉ mang theo máy bay mà mang theo cả nhiều loại vũ khí. Vì vậy, phương Tây không nên quá coi thường sức mạnh quân sự của
Có vẻ như các nước phương Tây cũng hiểu được tình hình và cũng có những bước đi thận trọng khi tung ra các loại vũ khí khá hiện đại. Anh, Tây Ban Nha và Italia đã triển khai một loạt chiến đấu cơ hàng đầu của nước này như Eurofighter Typhoons và Tornado trên bầu trời
Liên quân còn có lợi thế kỹ thuật lớn về máy bay trang bị hệ thống cảnh báo và chỉ huy trên không (AWACS). Với việc sở hữu những hệ thống ra đa luân phiên nhau liên tục, những chiếc máy bay AWACS của liên quân có thể nhìn sâu vào không phận kẻ thù 320km, giám sát tất cả mọi hoạt động trên bầu trời Libya và chỉ đạo các máy bay của họ tấn công những máy bay vi phạm lệnh cấm bay.
Mỹ còn huy động một số tàu ngầm, tàu chiến hiện đại đến Libya, trong đó có tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân USS Providence được trang bị tên lửa Tomahawk; tàu tấn công đổ bộ USS Ponce và USS Kearsarge cùng với tàu chỉ huy USS Mount Whitney, tàu khu trục USS Mason, USS Barry và USS Stout. Ngoài ra, còn có hai tàu sân bay lớn tham gia chiến dịch quân sự ở Libya, trong đó có tàu Charles De Gaulle của Pháp và tàu USS Enterprise của Mỹ. Mặc dù liên quân phương Tây đang có ưu thế vượt trội về sức mạnh quân sự so với Libya, tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là liên quân sẽ dễ dàng đánh bại và tránh được những tổn thất về người và của ở chiến trường Libya.
Để giảm thiểu những tổn thất, dù đang cố cắt giảm chi phí quốc phòng, chính quyền Obama vẫn yêu cầu Bộ Quốc phòng tăng chi phí phát triển loại máy bay EA-18 Growler tấn công điện tử này và ngay lập tức được đưa đi "thử nghiệm" tại chiến trường Libya. EA-18 Growler của không quân Mỹ là loại máy bay "tấn công điện tử" mới nhất được quân đội Mỹ thử nghiệm trên chiến trường. Một phi đội máy bay chiến đấu EA-18 Growler đang được Hải quân Mỹ triển khai trên bầu trời
Đặc điểm của EA Growler là thay vì chở bom để ném xuống các mục tiêu của đối phương trên chiến trường, máy bay Growler sẽ chở các loại ra đa, ăng-ten và nhiều loại thiết bị công nghệ cao khác. Mỗi thiết bị điện tử được gắn vào hai cánh máy bay và thực hiện các chức năng khác nhau, kể cả xác định vị trí của các trận địa ra đa của đối phương, ngăn chặn và gây nhiễu các tín hiệu của các máy thông tin liên lạc và theo dõi thay đổi chiến thuật của các ra đa đối phương.
Với tốc độ bay nhanh hơn tiếng động, chúng có thể gây nhiễu các trạm ra đa trên mặt đất của lực lượng ủng hộ nhà lãnh đạo Gaddafi, giúp các máy bay chiến đấu và máy bay ném bom của NATO "thoải mái" tấn công xe tăng, bắn phá các trạm thông tin liên lạc và đánh bom các mục tiêu chiến lược khác.
Máy bay điện tử - một trong những bí quyết của Mỹ
Ông Loren Thompson, nhà phân tích chính sách quốc phòng của Viện Lexington ở
Giới chức quân sự Mỹ đang tự hào rằng thành công của các máy bay tấn công điện tử Growler đã được chứng minh tại Libya, khi mà nhờ có máy bay điện tử này, các máy bay của NATO đã thực hiện 5.000 phi vụ tấn công và ném bom, nhưng không chiếc nào bị bắn rơi. Mỗi chiếc máy bay tấn công điện tử Growler do hãng Boeing sản xuất có giá khoảng 74 triệu USD, do hai phi công điều khiển, tốc độ bay hơn 1.700 km/giờ, hình dáng giống loại máy bay chiến đấu F/A-18 Super Hornet.
Cùng với hệ thống ra đa công suất lớn của hãng Raytheon và loại máy gây nhiễu các ra đa chiến thuật của tập đoàn ITT Electronic Systems and Northrop Grumman Corp, máy bay tấn công điện tử Growler là một trong những bí quyết điện tử của Mỹ.
Hiện nay 4 tập đoàn không gian vũ trụ khổng lồ gồm: Northrop, BAE Systems, Raytheon và Boeing đang đấu thầu một hợp đồng trị giá 2 tỷ USD của Lầu Năm Góc nhằm nghiên cứu và sản xuất các thiết bị gây nhiễu mới để trang bị trên các máy bay tấn công điện tử Growler, máy bay chiến đấu tấn công hỗn hợp F-35 và khả năng cả các máy bay không người lái vũ trang vào năm 2018.
Bộ Quốc phòng Mỹ cũng chi 1,1 tỷ USD để sản xuất thêm 12 máy bay tấn công điện tử Growler và các nhà thầu quốc phòng đang cạnh tranh nhau để phát triển thế hệ tiếp theo của các thiết bị gây nhiễu nhằm nâng cao khả năng của quân đội Mỹ trong việc làm gián đoạn và phá hủy các phương tiện điện tử của đối phương.
Gọi EA-18 Growler là "điển hình" trong công nghệ chiến tranh điện tử của Mỹ, nhưng thực ra, cho đến nay, không ai biết rõ chi tiết cũng như khả năng của các thiết bị tiến công điện tử mới của Mỹ, bởi vì chiến tranh điện tử thường được Lầu Năm Góc giữ bí mật nhằm bảo đảm yếu tố bất ngờ trên chiến trường. Lầu Năm Góc đang tìm cách tăng thêm ngân sách cho các chương trình nghiên cứu công nghệ, kể cả công nghệ chiến tranh điện tử, lên 12,2 tỷ USD trong năm tài chính 2012, cao hơn so ngân sách nghiên cứu công nghệ 11,8 tỷ USD năm 2011