Sự kiện quy tụ gần 50 tham luận cùng nhiều ý kiến tâm huyết của các đồng chí lão thành cách mạng, tướng lĩnh, sĩ quan, nhà khoa học và đại diện gia đình các đồng chí lãnh đạo tiền bối.
Mốc son chói lọi và cuộc diễn tập lịch sử
Phát biểu khai mạc và đề dẫn hội thảo, đồng chí Trần Văn Khuyên, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy TP Hồ Chí Minh, nhấn mạnh hội thảo là dịp tri ân sâu sắc các đồng chí lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng cùng các chiến sĩ cách mạng đã cống hiến, hy sinh vì độc lập dân tộc; đồng thời tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ và phát huy giá trị lịch sử của Khởi nghĩa Nam Kỳ trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Khởi nghĩa Nam Kỳ (tháng 11/1940) tuy chưa giành được thắng lợi cuối cùng nhưng đã thể hiện sâu sắc tinh thần quật khởi, ý chí độc lập và quyết tâm dùng bạo lực cách mạng để giành chính quyền của nhân dân Nam Bộ; đồng thời là tiếng súng báo hiệu cuộc khởi nghĩa toàn quốc. Cùng với Khởi nghĩa Bắc Sơn và Binh biến Đô Lương, Khởi nghĩa Nam Kỳ là cuộc diễn tập quan trọng, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.
Đánh giá về giá trị lịch sử của sự kiện, đồng chí Phạm Chánh Trực, nguyên Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, nguyên Chủ tịch HĐND TP Hồ Chí Minh, đúc kết: Cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ đêm 22 rạng sáng 23/11/1940 là mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc. Dù bị đàn áp dã man, tinh thần oanh liệt và sự hy sinh cao cả của các lãnh tụ Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Hữu Tiến... đã trở thành ngọn lửa soi đường cho các thế hệ về sau.
Dưới góc độ nghiên cứu địa bàn trọng điểm, PGS.TS Lưu Văn Quyết, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh), nhận định: Nhìn từ Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, tầm vóc của cuộc khởi nghĩa nằm ở tinh thần tiến công, sức huy động quần chúng và sự hy sinh to lớn. Thực tiễn quyết liệt của cuộc khởi nghĩa đã đặt ra những bài học về thời cơ, lực lượng, tổ chức và địa bàn mà phong trào tiếp tục đối diện trong những năm sau đó, khẳng định vị trí đặc biệt của Khởi nghĩa Nam Kỳ trong tiến trình cách mạng Nam Bộ.
Tại hội thảo, các đại biểu đã phân tích sâu sắc những bài học kinh nghiệm quân sự, quốc phòng còn nguyên giá trị thực tiễn đối với công cuộc bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Đại tá, TS. Lê Thanh Bài, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam (Bộ Quốc phòng), nhấn mạnh: Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940 là bước cụ thể hóa việc sử dụng bạo lực cách mạng cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Sự kiện chứng minh rằng muốn lật đổ ách thống trị của thực dân, đế quốc để giành độc lập, tự do, nhất thiết phải bằng khởi nghĩa cách mạng, bạo lực vũ trang của toàn dân chứ không thể chỉ bằng đấu tranh chính trị đơn thuần. Đó là tiền đề thực tiễn quan trọng để Đảng đề ra đường lối đúng đắn, dẫn dắt nhân dân đến thắng lợi trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.
Đại tá Lê Thanh Bài chỉ rõ: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng, bạo lực cách mạng Việt Nam được phát huy cao độ để giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Ngày nay, quan điểm bạo lực cách mạng trong bảo vệ Tổ quốc chính là sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân với sự tham gia rộng rãi của nhân dân, có lực lượng vũ trang làm nòng cốt – yếu tố căn bản để bảo vệ vững chắc Tổ quốc”.
Đồng quan điểm trên, Thiếu tướng, PGS.TS Vũ Quang Đạo, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, khẳng định trong tham luận “Xây dựng thế trận lòng dân vững chắc - Bài học cốt lõi từ Khởi nghĩa Nam Kỳ”: Mặc dù không thành công và bị tổn thất nặng nề do sự đàn áp dã man của thực dân Pháp cùng tay sai, nhưng cuộc khởi nghĩa đã để lại bài học cốt lõi về việc xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc - nền tảng cho mọi thắng lợi của cách mạng.
Tri ân các Anh hùng liệt sĩ: Từ ký ức đến trách nhiệm hiện tại
Một trong những nội dung nhận được sự quan tâm tại hội thảo là tham luận “Từ hành trình đưa cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập trở về quê hương đến phát huy di sản các chiến sĩ cách mạng hy sinh tại Ngã Ba Giồng” do đồng chí Hà Huy Thanh (Chủ nhiệm Chương trình “Tìm kiếm - khai quật - di dời - an táng - vinh danh cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập”), đại diện gia đình cố Tổng Bí thư trình bày.
Đồng chí Hà Huy Thanh xúc động nhắc lại ngày 28/8/1941 - thời khắc bi tráng khi thực dân Pháp đưa các đồng chí lãnh đạo kiên trung của Đảng như Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Hữu Tiến... ra xử bắn tại trường bắn Nhà thương Giếng Nước và Ngã Ba Giồng.
Trải qua 8 năm tìm kiếm, ngày 22/11/2009 (sau hơn 68 năm kể từ ngày cố Tổng Bí thư bị hành hình), hài cốt của đồng chí Hà Huy Tập đã được tìm thấy tại xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn (cũ), TP Hồ Chí Minh và được đưa về an táng tại quê nhà Hà Tĩnh vào ngày 1/12/2009. Đến ngày 18/8/2026, tượng của cố Tổng Bí thư đã được an vị tại Nhà thờ Đại tôn họ Hà ở Cẩm Hưng (Hà Tĩnh).
Đồng chí Hà Huy Thanh bày tỏ: Từ năm 2009 đến nay là hành trình của một sự tiếp nối. Từ Hà Tĩnh đến Ngã Ba Giồng. Từ ký ức của quá khứ đến trách nhiệm của hiện tại. Và từ sự hy sinh của một thế hệ đến khát vọng sống có ích của những thế hệ tiếp theo. Đó chính là cách thiết thực nhất để những người đã nằm xuống tiếp tục hiện diện trong tương lai của đất nước.
Trung tướng, PGS.TS Vũ Cương Quyết, Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, phát biểu tổng hợp hội thảo.
Phát biểu tổng hợp hội thảo, Trung tướng, PGS.TS Vũ Cương Quyết, Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, khẳng định: Khởi nghĩa Nam Kỳ (11/1940) là khúc tráng ca bất tử trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, biểu tượng cho tinh thần yêu nước, ý chí quật khởi và khát vọng độc lập, tự do của nhân dân Nam Bộ dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Kỳ.
Sự kiện đã góp phần tôi luyện đội ngũ cán bộ, bồi đắp lực lượng cách mạng, tạo tiền đề quan trọng cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Sự hy sinh anh dũng của các đồng chí lãnh đạo tiền bối là biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là di sản tinh thần vô giá cho các thế hệ mai sau.
Trung tướng Vũ Cương Quyết đánh giá cao chất lượng gần 50 tham luận cùng các ý kiến thảo luận sắc bén, công phu, khai thác nhiều nguồn sử liệu phong phú. Hội thảo không chỉ làm sáng tỏ bối cảnh, tầm vóc, ý nghĩa lịch sử cùng sự hy sinh của các chiến sĩ cách mạng ngày 28/8/1941, mà còn đề xuất nhiều giải pháp khả thi nhằm phát huy giá trị di sản này vào công tác nghiên cứu, giáo dục truyền thống, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần phát triển TP Hồ Chí Minh văn minh, hiện đại, nghĩa tình, vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.