Khoảng cách

Tôi bước vào lớp, bụng thấp thỏm. Buổi “tác nghiệp” đầu tiên, cô giáo mới ra trường, lần đầu lên lớp quả có hơi run. Định bụng sẽ làm nghiêm, “ra oai” ngay từ đầu để dằn mặt đám học trò “bò bướu” lớp 7B, lớp có tiếng “đại hội võ lâm” mà tôi vừa nhận chủ nhiệm. Tiếng đồn không hổ: cô vào lớp kệ, vài đứa vẫn đùng đùng chạy lại chạy đi, giỡn cười chí chóe… 

Tôi đứng giữa bục giảng, khoanh tay, nghiêm mặt.

Ánh mắt sắc lạnh của tôi khiến trật tự được vãn hồi đôi chút. Dù gì cũng chỉ mới lũ nhóc lớp 7; tôi tin mình sẽ đủ mưu cơ, dũng lược để “cầm quân”. “Chào các em” - Tôi nói, khá bình thản khi lũ nhỏ lục tục đứng lên. “Chúng em chào cô” - Câu đáp đồng thanh, thường lệ. Vẫy tay cho học trò ngồi xuống, tôi đưa mắt quét thêm một lượt từ đầu đến cuối lớp để yên trí rằng mọi sự đã “vào khuôn vào phép”.

Trời ạ, không tin nổi nơi mắt: lù lù ngồi hàng cuối lớp là một cậu học trò, không, một… thanh niên thì đúng hơn. To cộ, tướng như lực điền, da đen nhẻm. Còn nữa, râu quai nón kéo vệt cùng đôi mắt đen, sâu thăm thẳm đang “chiếu tướng” thẳng vào tôi. Dũng khí rớt sạch, tôi cố giấu đôi chân run, tiến lại bàn giáo viên, ngồi phịch xuống ghế.

Chờ cho trống ngực bớt đánh, tôi mới dám bắt đầu bài tự giới thiệu bản thân, làm quen, giao lưu với lớp. Vòng vèo chê chán, làm gan, tôi gọi “chàng thanh niên” đứng dậy. Em tên gì? Dân tộc? Quê? Dạ, em tên Mông Văn Sử, dân tộc Nùng, quê thôn S, xã… Hiểu rồi, thôn S, vùng sâu, nơi có đến 80% đồng bào “dân tộc” – cả bản địa lẫn di cư. Huyện tôi công tác vốn huyện miền núi, học trò phổ thông gồm đủ các sắc dân, và các học sinh thuộc cộng đồng thiểu số luôn được đặc cách “miễn trừ” tuổi tác. Chịu đi học là quí rồi…

*

Cái “đại hội võ lâm” 7B hóa ra khó nhằn hơn tôi tưởng.

“Gờm” cô chủ nhiệm được vài ngày đầu, quen mặt xong là bắt đầu… lờn mặt. Mới lớp 7 mà bợm, nghịch hơn quỉ sứ. Thêm cái lì và hỗn láo. Nguyên một băng “đại ca” bò bướu tên nào cũng kèm theo “hỗn danh” nghe rất ớn: Bảo Đầu Bò, Tùng Lé, Lanh Đại Ca, Duy Chúa Tể và v.v… Thay phiên nhau mà “đại náo” không thôi. 

Sự việc còn tệ hơn khi chúng phát hiện ra bà cô chủ nhiệm cao thước bốn chín (là tôi) chỉ tài món… khóc. Chọc cho cô khóc trở thành trò vui tai ác mà băng “đại ca” rất khoái. Hôm thì cô giáo dạy xong ra xe tìm mãi không thấy chìa khóa. Hôm thì con sâu xanh bò lổm ngổm trên bàn (cô giáo vốn sợ sâu!). Hôm thì giữa tiết dạy của cô, thằng Tùng Lé bỗng dưng… nằm lăn, giãy đành đạch miệng trào bọt mép!

Đợi cô giáo phát hoảng khóc mếu, chạy kêu người cấp cứu xong nó mới bật dậy cười ha ha! Nghìn lẻ một chuyện điên đầu vậy nhưng tôi vẫn bấm bụng chịu đựng, cố nghĩ cách hàng phục đám “ngựa chứng”. Chịu thua, báo lên ban giám hiệu thì dễ, nhưng tự ái, tự trọng nghề nghiệp không cho phép tôi chưa chi đã đầu hàng, buông xuôi…

Con bé Thùy, lớp phó học tập mách nước: “Cô ơi, cô cho anh Sử (Sử lớn quá, không đứa nào dám kêu “bạn”) làm lớp trưởng đi cô”. “Chi vậy em?”. “Để ảnh trị mấy thằng “đại ca”. Trong lớp này tụi nó không sợ ai - trừ anh Sử…”.

Ý hay. Cứ thử xem. Thật tình, trông bộ dạng Sử cũng đáng sợ thật: cao to dềnh dàng, cơ bắp lực lưỡng, lại còn râu quai nón rậm rì. Nói vụng, cô giáo như tôi đây thấy Sử còn… sợ nói chi đến lũ học trò. Có “đại ca” thì cũng vẫn là nhóc!

*

Sáng kiến hay. Con bé Thùy quả xứng đáng được cấp “bằng sáng kiến”!

Từ hôm Sử chính thức nhận chân lớp trưởng thay thằng Huy “thỏ đế”, trật tự lớp 7B lập tức được “vãn hồi”. Băng “đại ca” đúng là hết dám ho he mỗi khi thấy Sử trừng mắt. Học không giỏi, nhưng Sử có tài tổ chức. Chỉ cần tôi giao việc đại cương, Sử sẽ lập tức sắp xếp, cắt đặt, điều hành đâu ra đó.

Con Hiền, lớp phó văn - thể - mĩ luôn mồm khen: Anh Sử làm “thủ lĩnh” hay ghê… Đâu phải “thủ lĩnh” cứ ỷ lớn hét hô nạt nộ mà xong việc đâu (mà để ý thấy Sử cũng chưa bao giờ hét hô nạt nộ). “Hung” cùng mấy đứa bợm, chứ với các bạn khác – đặc biệt bọn con gái – thì Sử rất hiền. Vậy mà, lạ chưa, Sử bảo gì chúng cũng nghe, nói gì chúng cũng tin - răm rắp! Tiết sinh hoạt lớp đầu tiên có Sử làm lớp trưởng, tôi thật sự nhẹ mình khi không phải chứng kiến cảnh “đại hội võ lâm” nháo nhào như thường lệ…

Duy nhất một lần thấy Sử nổi cục.

Minh họa: Phạm Minh Hải
Minh họa: Phạm Minh Hải

Lần ấy lại một trò bổn cũ soạn lại. Đám “đại ca” bị kiềm chế lâu ngày chắc ngứa tay sinh quái. Tôi bước vào lớp; vừa vén áo dài sửa đặt mông xuống ghế bỗng thấy cái gì ngọ nguậy. Nhìn kĩ: cha mẹ ơi, là một con… sâu róm to đùng! Tôi hét lớn, mặt tái dại, chân run bắn, nước mắt lưng tròng. Từ cuối lớp, Sử đứng bật dậy, chạy… - không, không phải chạy mà là lao - thẳng lên bàn giáo viên.

Lượm con sâu róm lên tay, Sử vất mạnh xuống sàn, đưa chân dẫm đánh “rầm”, giận dữ chà mạnh. Quét mắt xuống đám “đại ca” mặt mày cũng đang tái dại, Sử trừng trừng như muốn tìm cho ra đứa đã dám bày trò để ăn tươi nuốt sống. Mắt Sử vằn đỏ, răng nghiến kèn kẹt…

Hôm sau, con Thùy hớn hở chạy báo cáo: “Anh Sử nói rồi. Anh tuyên bố từ nay đứa nào làm cô khóc thêm lần nữa là… nát xương với ảnh! Cô yên tâm nha cô…”.

Yên tâm. Thoát Dược chuyện bị đám nhất quỉ nhì ma làm tình làm tội là một thắng lợi không nhỏ với tôi. Mọi chuyện dần vào khuôn phép. 7B từ chỗ thứ hạng thi đua xếp bét trường giờ đầu tuần liên tục giựt cờ luân lưu. Sự nghiệp “bình định đại hội võ lâm” của tôi coi như mĩ mãn thành công. Nhờ Sử…

*

Lần nào tôi lên lớp bàn cũng có hoa tươi. Hoa dại thôi. Cắm, trang trí giản đơn nhưng khá bắt mắt. Hoa khiến tôi thấy ấm lòng, hưng phấn; tiết dạy cũng trở nên sinh động, cuốn hút hơn. Một sự quan tâm lặng thầm. Ai là người biết tôi thích hoa? Con bé Hà, lớp phó lao động bật mí: là… anh Sử đó cô. Ảnh mang hoa tới, bảo tụi em tỉa, cắm, đặt lên bàn…

Không chỉ hoa trên lớp. Hoa còn theo chân tôi về tận… nội trú. Buổi sáng thức dậy, thấy có hoa tươi đặt trước cửa phòng. Mà không chỉ hoa; có lúc còn thêm khúc mía xanh chà rửa sạch sẽ, nải chuối, trái đu đủ vàng ươm hoặc bó rau rừng tươi. Gặp tôi, Sử cười bẽn lẽn: “Không có gì đâu cô, của nhà trồng, em mang ít cho cô…”. Chị đồng nghiệp cùng khu nội trú cười, trêu: “Hình như lớp trưởng “để ý” cô giáo bay ơi. Chết mày rồi…”. Tôi đỏ mặt, lườm chị: “Nói bậy bạ không hà, lỡ học trò em nghe…”.

Mẹ Sử gặp tôi ngoài chợ, vồn vã: “Trời, cô chủ nhiệm thằng Sử đây hả? Nó mê cô lắm. Nhắc cô hoài. Bảo thích cô. Bảo ngày nào không thấy cô cười thì ăn cơm không ngon. Mấy rồi tôi đang nghĩ: có khi nào nó “iu” cô giáo không trời?”.

Câu nói vô tư của người phụ nữ “dân tộc” khiến tôi thiếu chút nhảy dựng!

May, tôi kịp nhớ ra, người “dân tộc” vốn có cách nói thẳng đuột, hồn nhiên, không nhiều hàm ý giống người Kinh. Trấn tĩnh, tôi mỉm cười: “Mế về nói với Sử, muốn thấy cô giáo cười nhiều thì phải cố mà học giỏi” và chính tôi, ơ lạ chưa kìa, buổi dạy nào nếu nhìn xuống phía cuối lớp mà không thấy Sử ngồi đó là tôi thấy trong người bất an, thiếu hẳn đi “chất lửa” trong người để truyền vào các bài giảng cho học trò.

*

26-3, trường tổ chức hội trại.

Năm đầu tiên chủ nhiệm. Tôi vốn tính hậu đậu, rất dở làm công tác tổ chức. Nghĩ tới chuyện trại trùng, uống ăn, chơi nhởi cho mấy mươi nhân sự kéo dài gần 3 ngày; tưởng tượng thôi đã… hoa mắt bùng tai, muốn khóc!

Lại phải nhờ sự hỗ trợ của Sử.

Không, không phải hỗ trợ, chính xác là Sử làm thay tôi, thay từ A tới… gần Z! Sắp xếp, cắt đặt mọi thứ đâu ra đó: từ khâu dựng, trang trí trại trùng tới chợ búa nấu nướng. Tôi mó vào việc gì cũng bị Sử gạt: Cô cứ để tụi em lo! Lo thật. Chưa bao giờ năng khiếu “thủ lĩnh” của Sử phát sáng như lần hội trại ấy.

“Điều binh khiển tướng”, răm rắp, việc chạy rần rần. Nhờ sức khỏe cộng óc thẩm mĩ của Sử mà cổng trại 7B được dựng hoành tráng: đẹp, to hơn hẳn các trại khác. Chợ búa nấu nướng Sử giao con Hà, lớp phó phụ trách lao động cộng “chuyên gia ẩm thực”. Chưa yên tâm, Sử còn về nhà bắt đem “hỗ trợ” thêm con gà…

Kết thúc hội trại, 7B lại về nhất. Giải gì cũng có, từ cổng trại đẹp, nấu ăn ngon tới các tiết mục giao lưu, văn nghệ, thể thao… Công bình, chuyện này thì “công quả” của cô giáo tôi cũng không phải xoàng. Tôi vốn là “vua” thiết kế, dàn dựng kiêm đạo diễn món văn nghệ văn gừng cũng như các sân chơi trí tuệ!

Bế mạc. Dỡ trại. Loay hoay thế nào cây tre trụ cổng to đùng, dài nghêu bỗng… sút dây, lừng lững đổ xuống ngay nơi cô giáo đứng! Lũ nhỏ kêu thét, chạy túa. Tích tắc ấy, Sử đã lao vào, đưa nguyên phía vai “đỡ đạn” cho tôi. Tôi vô sự, nhưng vai Sử thì bầm đen, sưng to, may chưa bị gãy xương. Tôi lấy dầu thoa lên chỗ bị thương cho Sử, ngoảnh mặt đi. Sử đưa tay cầm lấy tay tôi dừng lại trên chỗ vết thương. Tôi nghe Sử nói nhỏ: “Cô để nguyên tay như thế một lúc được không, em sẽ đỡ đau hơn nhiều”.

*

Kết thúc năm học, tôi có quyết định chuyển trường dù lòng không muốn. Tôi phải về xuôi vì dưới đó tôi chỉ còn mẹ, mẹ đã già lại đau yếu bệnh tật luôn, và có người đã giúp tôi việc chuyển trường, anh ấy nói cũng đã nhiều lần muốn tôi về xuôi để được gần nhau.

Ngày chia tay lũ nhỏ 7B, cô trò đều khóc. Đám “đại ca” lừng lẫy một thời cũng khóc. Duy nhất một người không. Là Sử. Mắt Sử ráo hoảnh, nhưng đôi tròng đen sâu hút cứ trộm nhìn tôi, ướt rượi nỗi buồn…

Bịn rịn, tôi tiễn chân từng đứa học trò ra cửa. Sử ra sau cùng. Tôi không dám cầm tay Sử (tiếng cô – trò nhưng tôi chưa bao giờ dám cầm tay Sử. Sử chỉ nhỏ hơn tôi đúng… một tuổi, không hơn!). Nhưng đây buổi gặp cuối cùng, tự nhiên tôi cứ bần dùn, không muốn vội rời xa Sử…

Thả bộ bên nhau, giọng Sử trầm trầm:

- Năm tới, chắc em thôi học…

Tôi giật nảy:

- Sao thôi?

- Nhà em khó lắm. Lâu nay em ráng học là vì…

- …?

- Là vì… cô! Giờ cô đi…

Tôi chết lặng. Cảm nhận mơ hồ đã hóa thật. Và trong tôi chưa xa mà đã cồn lên một nỗi nhớ.

Hít một hơi dài lấy bình tĩnh, chờ ngực bớt đập, tôi cất tiếng, hơi run:

- Em có biết… em vừa làm gì với cô không?

- …?

- Em vừa làm cô khóc đó!

- …?!

- Đời cô sợ nhiều thứ, nhưng không nỗi sợ nào lớn bằng sợ học sinh bỏ học. Nếu em thật sự “vì cô” thì phải cố học. Cố vượt lên nghịch cảnh để khẳng định mình. Em nghe chưa?

Tôi nói như quát, nước mắt bắt đầu ứa ra. Mình khóc thật sao trời. Thật tình, tôi chỉ muốn “hù” Sử chút thôi, ai ngờ khóc thật!

Thường ngày, tôi biết, Sử rất sợ nhìn tôi chảy nước mắt.

*

Phòng đợi tòa án. Người đàn ông cao lớn, da ngăm đang ngồi một mình trên băng ghế. Dáng dấp trông quen, rất quen. Ý thức như đang trôi tuột vào vùng kí ức rất xa. Tôi thấp thỏm, chờ…

Không sai. Là Sử.

Tôi vẫn nhận ngay ra Sử. Phong trần hơn nhưng vẫn đẹp, manly như trước, duy đôi mắt đen sâu hút cứ mênh mông buồn! Nghe nói Sử tốt nghiệp đại học ra trường, lấy vợ, sinh con. Công việc ổn định, gia đình hạnh phúc. Mừng cho em…

- Em đến tòa làm gì?

- Em đi… nộp đơn.

- …??

- Đơn… li hôn. Vợ chồng em tan rồi!

- Không cứu vãn được?

- Dạ không… chắc hơn ai hết, cô là người biết điều đó.

Sử nói, dửng dưng.

Lại phải cố trấn tĩnh. Sao oái oăm vậy trời. Nằm mơ tôi cũng không nghĩ sẽ gặp lại Sử trong tình huống trớ trêu kiểu này. Ngồi bên nhau, im lặng. Cái im lặng ngổn ngang, chứa chất đủ điều. Ơ sao cứ như con quay vậy trời, cứ mãi đi tìm nhau, gặp rồi lại tan, gặp rồi mà không đến được.

 Phòng tiếp công dân mở cửa.

Đứng lên, khẽ cầm tay Sử, tôi nói – đúng hơn là thì thào:

- Cố lên em. Ráng vượt nghịch cảnh…

- … để khẳng định mình, như cô đã từng nói với em! - Sử tiếp giọng, cười buồn.

Đến phiên Sử cầm tay tôi, chặt hơn. Hình như Sử đang muốn nói một điều gì đó nhưng tôi vội vã chạy nhanh vào trong phòng. Khi quay ra, Sử đã hòa trong đoàn người hối hả ngoài đường.

Sử đi, còn mình tôi. Giờ thì tôi không còn đủ sức cho cả những giọt nước mắt. Tôi đã cố tình quanh co, không cho Sử biết chuyện tôi cũng đến tòa để nộp đơn li hôn. Nếu Sử biết điều này? Rồi thì sao Sử của tôi ơi? Phải chăng cái khoảng cách cô trò cứ mãi là một lằn ranh quá lớn để mãi chúng ta không thể vượt qua? 

Truyện ngắn của Y Nguyên

Các tin khác

Tình yêu dị dạng

Tình yêu dị dạng

Khi đến lượt mình, Lâm Khê lén dúi vào tay anh mẩu giấy ghi số điện thoại. Thẩm Ngôn khựng lại, ngẩn người nhìn cô rồi lẳng lặng nhận lấy. Ngay tối hôm đó, cô nhận được cuộc gọi từ anh.

Biển rợp sóng

Biển rợp sóng

Tiếng gió biển thổi đem tiếng vi vu của vạt phi lao tới như một bản nhạc vừa buồn vừa rực rỡ, ngút ngàn cô đơn. Biển cũng chỉ có vậy thôi: đơn giản và nhạt nhòa. Nó giống như chàng trai lúng túng trước vạt tóc bay qua bờ vai phủ lên khuôn mặt đẫm nước mắt của cô gái mà chỉ biết thở dài thừa thãi.

“Trợ lý thông minh”

“Trợ lý thông minh”

Lý Minh hào hứng nghiên cứu cả buổi chiều, cài đặt hết các lệnh cần thiết, thậm chí còn lén cài thêm một lệnh “lời chào tùy chỉnh”. Anh ta tự tin nói: “Có nó, hiệu suất làm việc của văn phòng chắc chắn sẽ tăng gấp đôi”.

Còn lại cái gọng không

Còn lại cái gọng không

Vâng lời bác sĩ, tôi sắm ngay một chiếc kính. Nhưng khổ nỗi, cứ hễ đeo vào là đầu óc lại quay cuồng, buồn nôn không chịu nổi. Thậm chí có lần, nói ra thì hơi ngại, tôi đã nôn thốc nôn tháo đến mức mật xanh mật vàng đều ra hết.

Tiếng khèn giữ mùa phượng cuối

Tiếng khèn giữ mùa phượng cuối

Đời này, kiếp này A Sính sẽ gắn bó với núi rừng. Nó thương những em nhỏ mỗi lần đi học phải dậy từ sớm, rồi đu qua sợi dây cáp sang bên kia suối, đi hết một quả đồi nữa mới đến điểm trường. Biết được nỗi nhọc nhằn đi tìm con chữ của dân bản, cấp trên đã cho xây dựng một lớp học ở lưng chừng đồi.

Người đàn ông bên bến sông trăng

Người đàn ông bên bến sông trăng

Ngoài sân, mấy tàu cau khô cọ vào nhau xào xạc. Thời gian của đêm trôi qua chậm và buồn quá. Lâu nay, khi có rượu vào là Lâm lại nhớ về quãng đời cũ của mình.

Khiêu vũ với cái chết

Khiêu vũ với cái chết

Người đàn ông kia có đôi mắt xám với hàng mi dày, mũi rộng và môi rất mỏng. Khi người phục vụ mang đồ uống đến, họ với lấy ly mà không rời mắt khỏi sàn nhảy.

Lời của Thượng đế

Lời của Thượng đế

“Trong thiên hạ không có cái gì là không lấy được, không có chỗ nào là không đột nhập được”.

Những ông vua bị lừa

Những ông vua bị lừa

Tôn Tẫn không nhịn được cười nói: “Không phải hạ thần đã làm cho Bệ hạ rời khỏi ngai vàng rồi sao?”

Ánh đèn khuya chạm ngõ

Ánh đèn khuya chạm ngõ

Từ trong sâu thẳm chàng thanh niên kia, anh biết nó quý anh. Cảm giác nó nghe lời anh hẳn đang ao ước với con gái mình mà chưa dám. Có lần nó hỏi chuyện em Diệp công việc ra sao, anh nhẹ nhàng nói nhanh rồi lơ qua chuyện khác.

Đêm sâu trên bến Gáo

Đêm sâu trên bến Gáo

Vào mùa nước nổi, những cánh đồng thoảng hương lúa non bỗng chốc hóa thành biển nước mênh mông, trải dài tít tắp đến tận chân trời, nơi thỉnh thoảng vài cánh cò trắng lảng bảng bay về phía rặng tràm thẫm tối cuối bến dốc

Quan Tể tướng và cô con gái

Quan Tể tướng và cô con gái

Bất chợt tiểu thư Ngọc Hương thấy trong lòng có chút lo ngại. Rõ ràng chiều tối hôm qua, trước khi trở về phòng mình, chính tay nàng đã mang cây nến mới vừa châm lửa đến đặt trên bàn sách. Cây nến cao bằng chiếc đũa ăn giờ đã cháy gần hết. 

Hành khách tệ hại

Hành khách tệ hại

Động cơ xe hộc lên một tiếng khô khốc rồi lầm lũi lao về phía trước. Martha vẫn chưa chịu buông tha, bà ta bắt đầu đi dọc lối đi, gót giày nện xuống sàn xe nghe chát chúa:

Thử nấm độc

Thử nấm độc

Nhìn những vệt hoa văn sặc sỡ trên mũ nấm, tim tôi đánh thót một cái. Tôi nhận ra ngay đó là loại nấm kịch độc, chỉ cần nếm một chút cũng đủ đi gặp tổ tiên.

Lão Lai Phúc trúng độc đắc

Lão Lai Phúc trúng độc đắc

Đúng lúc đó, vợ lão thản nhiên cầm tấm vé lên xem, vừa lau bàn vừa liếc nhìn tivi. Bàn tay bà ấy cử động chậm dần, cuối cùng thì há hốc miệng và đứng chết lặng, ngây người khiến lão Lai Phúc giật mình: "Kìa, bà làm sao vậy?".

Minh họa: Lê Tâm

Tư duy con cua

Chị Tú, vợ của lão Trần, vừa trở thành tâm điểm chú ý của cả cơ quan khi nhận danh hiệu Gương mặt công chức ưu tú vào dịp cuối năm, kèm theo đó là quyết định thăng hai bậc lương.

Bữa tiệc “xác thịt”

Bữa tiệc “xác thịt”

Chỉ trong sáu ngày, từ 18 tháng Sáu tới 23 tháng Sáu, đã có ba nhân viên dưới trướng anh Keo, thợ săn ảnh tôi quen, liên tiếp qua đời do xuất huyết não cấp tính. Nếu nhân viên công ty này toàn các bác bảy, tám mươi tuổi thì còn hiểu được. Nhưng họ đều là thanh niên mới ngoài hai, ba mươi, thực sự rất đáng ngờ. Tôi bắt đầu cuộc điều tra. Tôi hỏi dạo gần đây anh Keo có làm mếch lòng ai không.

Vua hám lợi

Vua hám lợi

Ở một thị trấn nhỏ miền Bắc có một người mà ai cũng biết, gọi là “Vua hám lợi”- đó là lão Vương. Lão Vương năm nay hơn năm mươi tuổi, dáng người không cao nhưng đôi mắt lão cực kỳ linh lợi, lúc nào cũng đảo quanh như thể đang tìm cơ hội kiếm lợi tiếp theo.

Trăng đỏ

Trăng đỏ

                                                                                                             Truyện ngắn dự thi của Vi Hợi

Trăng trên đỉnh Phá Khao đêm nay lạ lắm. Nó không vàng vọt như những đêm hanh hao đầu mùa, cũng không bạc trắng như sương muối. Nó đỏ quạch, đặc quánh như vũng máu loãng đổ dền lên những phiến đá tai mèo sắc lẹm. Gió núi thổi thốc qua những hốc đá, phát ra âm thanh u u, rền rĩ như tiếng của hàng ngàn con ma khát nước đang bò lê lết dưới thung sâu.

Ông Ậu mo cuối cùng

Ông Ậu mo cuối cùng

Tôi đặt lễ, thắp nhang lên bàn thờ người Ậu mo cuối cùng của bản. Thay cho lời khấn vái như người dưới xuôi, tôi lẩm nhẩm đọc một đoạn “mo dẫn đường”. Vì tôi biết, ngày ông Ậu Cường về Mường Ma, không có ông Ậu nào đọc bài mo dẫn đường để dẫn vong hồn ông lên trời. Thông đứng lặng cạnh bên nghe tôi đọc làu làu. Xong rồi, tôi với Thông cùng ngồi xuống chiếc chiếu từ ngày xưa, ngày ông Ậu Cường vẫn thường ngồi, trải phía trước bàn thờ.