Năm 2005, nghe như có bom dội tại Hà Nội: tìm thấy và xuất bản cuốn Nhật ký viết từ 1968 đến 1970 của Đặng Thuỳ Trâm, một phụ nữ trẻ, bác sĩ ngoại khoa Hà Nội, đã vào miền Nam giữa thời kỳ chiến tranh ác liệt nhất. Báo chí đều đồng loạt ca ngợi, coi đó là một kiệt tác. Ở Pháp, chúng tôi nóng lòng mong sớm được đọc cuốn nhật ký đó. Lại càng sốt ruột hơn vì bối cảnh tìm lại được cuốn Nhật ký của Đặng Thuỳ Trâm lại rất lãng mạn, nếu không nói là huyền hoặc.
Đầu năm 2010, đạo diễn Việt Nam (VN) Đặng Nhật Minh đã tổ chức buổi chiếu mời khách tại Paris để giới thiệu bộ phim lấy cảm hứng từ Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm quay cho truyền hình Việt Nam. Đạo diễn đã quyết định xây dựng kịch bản phim xoay quanh câu chuyện Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm biến mất rồi lại xuất hiện, chứ không phải xung quanh nội dung nhật ký. Ông bộc bạch, ông không muốn làm phim chiến tranh. Chúng tôi nhận thấy việc lựa chọn của ông là xác đáng và bộ phim đã rất thành công, nhưng chúng tôi vẫn chưa thoả mãn: cuốn Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm vẫn chưa được dịch sang tiếng Pháp.
Cuối cùng, đến nay, Nhà xuất bản Picquier đã cho xuất bản cuốn Nhật ký dưới tiêu đề "Nhật ký tìm thấy". Được J. C Garcias dịch từ bản gốc tiếng Việt, bản dịch tiếng Pháp có lời giới thiệu của Frances Fitzgerald (do chính Garcias dịch từ tiếng Anh sang) để nhắc lại bối cảnh cuộc chiến tranh VN, thời kỳ viết cuốn nhật ký, cũng như những cuộc phiêu lưu đi về từ VN sang Mỹ rồi từ Mỹ về VN của cuốn sách. Kể từ đó độc giả Pháp ngữ có điều kiện đọc cuốn nhật ký trứ danh của cô gái Việt Nam nhỏ nhắn, mất khi mới 28 tuổi, do một viên đạn Mỹ bắn vào đầu. Cô nào có tham gia chiến tranh đâu, cô chỉ cứu chữa chăm sóc thương binh. Vì đó là nghề của cô, nghề của bác sĩ khoa ngoại và cô đã quyết đinh vào Nam phục vụ trong những bệnh viện dã chiến gần bom đạn.
Sau khi đọc cuốn nhật ký, độc giả người Pháp như có cảm giác nặng nề và khó chịu. Có phải vì họ cho rằng cuốn sách này không phải là kiệt tác như được thông báo? Đúng vậy, thực ra cuốn sách là một bằng chứng không những mang ý nghĩa lịch sử lớn lao, mà còn làm cho mọi người xúc động, nhưng không phải vì thế mà nó trở thành một kiệt tác văn học. Phải chăng do ngây thơ (hay cách dùng uyển dụ?) hay do thiếu hiểu biết hoặc tính tự mãn mà người Mỹ đã giới thiệu tác phẩm này như là một kiệt tác của văn học Việt Nam (xin nhắc lại rằng cuốn sách được xuất bản bằng tiếng Anh ở Mỹ trước khi bản gốc bằng tiếng Việt được xuất bản tại Việt Nam).
Rõ ràng việc xuất bản cuốn sách này được coi như loại sách bán chạy ở Việt Nam, và chính với tư cách là bằng chứng có một không hai, cuốn sách hoàn toàn xứng đáng với thành công đó. Rõ ràng, cần phải cảm ơn Nhà xuất bản Picquier đã cung cấp cho chúng ta một bản dịch tiếng Pháp của cuốn sách, (và chúng tôi hy vọng sẽ có nhiều người đọc) mà không nhắc đến kiệt tác văn học để tránh gây thất vọng cho những độc giả có ít nhiều hiểu biết về nền văn học Việt Nam.
Lĩnh vực văn chương chắc chắn rất xa lạ đối với viên sĩ quan người Mỹ Whitehurst (vốn rất yêu nước, là lính tình nguyện đến Việt Nam) vào năm 1970, khi anh phát hiện cuốn Nhật ký của Đặng Thuỳ Trâm và anh đã mang về Mỹ; anh cũng không biết gì hơn về lĩnh vực này khi dịch Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm sang tiếng Anh, với sự giúp đỡ của người em trai và cô em dâu người Việt.
Và thế là anh đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Và cũng từ sai sót này đến sai sót khác.
Ngạc nhiên thứ nhất: trong số những Việt cộng mà anh thường nghe nói là mọi rợ, cần phải tiêu diệt hết, vẫn có một số người (ít nhất là tác giả của cuốn nhật ký) cũng biết đọc và biết viết? Hơn nữa, tác giả cuốn Nhật ký này không chỉ là một người cộng sản, mà còn là một phụ nữ. Trong tay Whitehurst là một kho báu quý hiếm, một tác phẩm văn học Việt Nam mà tác giả là một phụ nữ!
Ngạc nhiên thứ hai: trong số những Việt cộng mà anh thường nghe kể là những con quỷ độc ác răng ngậm dao, hình như một số người (ít nhất là tác giả của cuốn nhật ký) vẫn có cái gì đó mà người ta có thể gọi là con tim, thậm chí là tâm hồn, với tình cảm, và đôi khi có cả nước mắt, ước mơ và lý tưởng. Người phụ nữ viết cuốn nhật ký này rất thương yêu bố mẹ, cô đã có một người yêu; và cô rất yêu Tổ quốc… Tóm lại, cũng giống như bất kỳ phụ nữ nào ở Mỹ?
Ngạc nhiên thứ ba: trong số những Việt cộng, mà người ta nói với anh đó là hiện thân tuyệt đối của cái Ác, và vì thế, chỉ khi nào họ bị hoàn toàn tiêu diệt thì mới có hoà bình, vẫn có một số người (trong đó có tác giả cuốn nhật ký) luôn mơ ước có hoà bình và những niềm vui gia đình bình dị trong một đất nước được giải phóng khỏi nạn xâm lược của những kẻ mà cô bác sĩ cộng sản nhỏ bé gọi là những con quỷ khát máu, và cô luôn kết thúc những ước mơ hoà bình và hạnh phúc của mình bằng niềm tin đó "chỉ có một con đường, là chiến đấu cho đến khi không còn một tên giặc Mỹ nào trên đất nước chúng ta, thì lúc đó chúng ta mới có hạnh phúc". Một buổi chiều, thất vọng vì có quá nhiều ca tử vong mà cô không làm sao ngăn chặn được, cô nói: "Giặc Mỹ rình rập sau chúng ta như những con quỷ khát máu người, chúng luôn lén lút đâm nanh vuốt chúng vào xương thịt chúng ta. Chỉ có khi nào đuổi được chúng vĩnh viễn ra khỏi đất nước chúng ta, thi lúc đó chúng ta mới hết cảnh máu chảy đầu rơi".
Cũng như nhiều cựu chiến binh Mỹ khác, từ chiến trường Việt Nam trở về, Fred Whitehurst suy sụp tinh thần: những vụ tàn sát dân thường, ném bom, càn quét làng quê từ tờ mờ đất vẫn luôn làm cho ông có mặc cảm tội lỗi và đau đớn xót xa, nên khó khăn lắm, ông mới hồi phục được. Đọc Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm làm ông ngạc nhiên, lại khơi dậy cảm giác tội lỗi đó và làm cho ông nhận ra một sự thật khác: Liệu ông đã từng tham gia tàn sát người vô tội? Có phải vì cho rằng đang thực hiện bổn phận công dân yêu nước của mình mà ông đã chém giết những người khác, những người đó không làm gì khác, ngoài việc thực hiện bổn phận công dân yêu nước của mình? (với một sắc thái khác nhau: người Việt Nam yêu nước vẫn ở trên Tổ quốc mình, còn công dân yêu nước Mỹ lại là kẻ xâm lược trên lãnh thổ của nước ngoài). Như vậy quỷ dữ và cái ác tuyệt đối ở phía nào?
Vì niềm tin bị lung lay, nên Whitehurst quyết định suốt đời luôn luôn tưởng niệm Đặng Thuỳ Trâm, (ông thú nhận "đã mê say" cô). Đối với ông, việc làm đó chính là bổn phận, nhưng điều đó làm tăng thêm ý nghĩa cho cuộc đời ông và tạo cho ông cơ hội để hồi phục sau những chấn thương nặng nề của chiến tranh. Đó là một liệu pháp hữu hiệu : cuối cùng chính Đặng Thuỳ Trâm đã cứu sống tên lính Mỹ Whitehurst! Và đã cứu sống hắn sau khi cô đã chết, bởi vì chính tên lính Whitehurst (hoặc nếu không phải hắn, thì là một chiến hữu của hắn) đã giết cô… với một viên đạn vào giữa trán... khi cô mới 28 tuổi…
Và thế là người lính Whitehurst quyết định cứu người phụ nữ Việt Nam nhỏ bé thoát khỏi sự lãng quên. Rõ ràng quyết định đó xuất phát từ những tình cảm tốt đẹp. Tuy nhiên, tình cảm tốt đẹp cũng không tránh cho Whitehurst việc mắc từ sai lầm này sang sai lầm khác.
Sai lầm thứ nhất: Muốn giới thiệu cho thế giới một đại văn hào. Người ta không thể "chế tạo" nhà văn bằng những tình cảm tốt đẹp, nhất là ở một đất nước có rất nhiều nhà văn xuất chúng. Khi đọc ở lời tựa của cuốn sách bằng tiếng Pháp: "… Hai phần ba người Việt Nam sinh sau năm 1975. Đối với họ, cuộc nội chiến (!) đã là một câu chuyện xa xưa, người ta kể lại câu chuyện đó một cách khô khan và sáo rỗng", người ta phải buồn lòng vì sự thiếu hiểu biết về Việt Nam được thể hiện qua những dòng này. Người ta chỉ cần cho tác giả đọc duy nhất một nhà văn duy nhất, một bác sĩ, một bác sĩ ngoại khoa như Đặng Thuỳ Trâm, cũng vào Nam như Thùy Trâm, và viết nhật ký như Thuỳ Trâm. Cuốn Nhật ký đó, ("Tây Nguyên-nhật ký về chiến tranh của một bác sĩ khoa ngoại Bắc Việt Nam 1965 - 1973" - Nhà xuất bản Thế giới, do Pierre Darriulat và Nguyễn Thị Nga dịch - NXB Thế giới), còn quý hơn một bằng chứng, là một tác phẩm thực sự có chất văn chương… Dù sao chăng nữa, đó không phải là một "văn bản khô khan và sáo rỗng".
Như vậy, nếu chúng ta vui mừng với thành công xứng đáng của cuốn Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm gặt hái được ở Việt Nam và chúc cho một thành công tương tự tại Pháp, chúng ta có thể nói rằng cuốn sách đó thực sự là một tài liệu gây xúc động và một bằng chứng ấn tượng về lịch sử, nhưng hoàn toàn không phải là một tác phẩm hàng đầu của văn học Việt Nam. Vả lại, Thuỳ Trâm cũng không phải viết nhật ký để xuất bản. Cuốn sách thực sự là nhật ký chỉ ghi lại những điều thầm kín - rất riêng tư - của một thiếu nữ, và độc giả có cảm tưởng như đang xâm phạm đến đời tư của Thuỳ Trâm nhỏ bé, vì chắc chắn cô sẽ không chấp nhận cho xuất bản những nỗi niềm tâm sự khi thì vụng về, khi thì thầm kín.
Sai lầm thứ hai: Muốn tạo ra một "phụ nữ Việt Nam anh hùng". Sau chiến tranh, những kẻ thất trận thường muốn tạo cho mình hình tượng anh hùng (kể cả hình ảnh của phụ nữ anh hùng, trinh nữ hay thiên thần) kết tinh tình cảm sùng kính của cả một dân tộc và hiện thân cho niềm vinh quang của nước bại trận, làm hào nhoáng thanh danh. Nhưng những người chiến thắng lại hoàn toàn không cần đến thứ mẹo vặt kiểu đó.
Quả vậy, (lẽ nào Whitehurst lại quên điều đó?) chính người Việt Nam (và trong đó có phụ nữ Việt Nam) đã thắng trong chiến tranh Việt Nam! Và ít nhất trong từng gia đình cũng có một nam hay nữ anh hùng đã hy sinh như Thuỳ Trâm để giải phóng đất nước từ tay giặc Mỹ, vì thế Việt Nam hoàn toàn không cần nâng một người nào đó trong số họ thành hình tượng ngôi sao duy nhất. Cũng ở đây, Whitehurst muốn tạo hình ảnh nhà văn và anh hùng như người ta lăng xê các ngôi sao điện ảnh. Chỉ cần nhớ rằng Hà Nội không phải là Hollywood còn Thuỳ Trâm sẽ không muốn đóng vai ngôi sao và chắc chắn sẽ từ chối. Quả thực, Whitehurst có vẻ không am tường truyền thống lâu đời của phụ nữ Việt Nam "giặc đến nhà, đàn bà phải đánh" (như Hai Bà Trưng đã từng xuất hiện nhiều thế kỷ trước khi "phát hiện" ra châu Mỹ). Còn khi giặc thất trận, cuốn xéo khỏi đất nước, phụ nữ Việt Nam lại trở về nhà. Lại thầm lặng.
Năng lượng Whitehurst hao tổn cho công việc "chế tạo" ngôi sao vô ích và không hợp thời lại giúp lương tâm ông bớt khắc khoải nặng nề, khi ông hiểu rằng chiến tranh Việt Nam là một sai lầm và là một điều xấu xa tệ hại. Lẽ ra ông sẽ đúng đắn hơn nếu sử dụng năng lượng đó để thuyết phục giải thích cho đồng bào và chính phủ nước ông rằng cuộc chiến đó là một điều xấu xa và là một sai lầm, và rằng không phải Hoa Kỳ quyết định được tất cả phần còn lại của thế giới, đâu là Thiện, đâu là Ác : có lẽ như thế người ta sẽ không lặp lại những sai lầm và những điều tồi tệ đó ở Iraq, ở Afghanistan…
Sai lầm thứ ba: Muốn được những nạn nhân (hoặc nếu không, thì những người thân của họ) tha thứ cho tội lỗi của mình. Bổn phận tối thiểu của người lính Whitehurst là phải trả lại cho đất nước và gia đình của Thuỳ Trâm cuốn sách mà ông đã lấy từ tay nạn nhân một vụ giết người do chính bạn bè của ông gây ra. Xin đừng nhầm lẫn nạn nhân và anh hùng. Hành động của Whitehurst chỉ là một cử chỉ truyền thông kiểu Mỹ, và nếu người Việt Nam đón nhận sự ăn năn hối lỗi của Whitehurst như đón nhận một anh hùng thì họ cũng không quên được vị anh hùng (nhân vật chính) duy nhất của câu chuyện là cô gái Việt Nam bé nhỏ chết khi mới 28 tuổi do một viên đạn Mỹ bắn vào giữa trán. Những điều người Mỹ gây ra ở đất nước cô, cô biết đó chính là tội ác chống lại nhân loại theo quy định của luật quốc tế : "… Rừng cây bị bom Mỹ băm vằm, giày xéo, những cây còn sót lại đều lấm tấm úa vàng vì chất độc hoá học. Chúng tôi cũng bị nhiễm chất độc. Kiệt sức, chân tay rã rời, chúng tôi không thể cử động, ăn uống được…" cô viết ngày 11 tháng 9 năm 1969. Là một nhà khoa học, cô biết rõ điều đó. Nhưng điều cô không thể hình dung được là, rất lâu sau khi chiến tranh kết thúc, loại chất độc khủng khiếp đó vẫn có thể giết hại nhiều thế hệ người vô tội.
Nhưng còn Whitehurst, hôm nay đây, ông không thể nói rằng ông không biết. Vậy thì tốt nhất là ông nên dồn sức để thuyết phục chính phủ và người dân nước ông rằng họ cần phải "trả giá" một cách khiêm tốn, chứ không phải để sửa chữa - vì tội lỗi không thể sửa chữa được, cũng không phải để được tha thứ - vì tội ác đã rõ ràng, (và không tự cho mình là thần thánh, anh hùng hay những nhà hảo tâm phóng khoáng) để giúp những người suốt đời phải chịu đau đớn vì hậu quả của việc rải thứ chất độc cho đến nay vẫn gây chết chóc đau thương ở Việt Nam, đó là chất độc màu da cam…
Và như vậy, chúng ta sẽ thanh thản hơn khi đọc những trang nhật ký đau lòng của một phụ nữ Việt Nam bình dị (… như nhiều thanh niên khác, tôi ra chiến trường..) viết dưới mưa bom bão đạn (… và máy bay cứ gầm rú suốt ngày trên đầu chúng tôi…), chúng ta sẽ hiểu được ý chí, lòng dũng cảm của cô khi cô quyết định, dù có nguy cơ phải hy sinh, cũng không bỏ mặc những thương binh, bệnh binh không sơ tán kịp, đôi chút phản kháng của cô (tuổi thanh xuân của tôi chỉ có mồ hôi, nước mắt và máu…), những ngờ vực và mạnh dạn của cô (tôi đa phẫu thuật một ca viêm ruột thừa trong điều kiện vô cùng thảm hại...) cũng như sự dịu dàng nữ tính của cô ( nỗi thất vọng vì là bác sĩ xen lẫn với tình mến mộ, cảm phục anh thương binh đó làm cho tôi rất khó xử. Tôi đã vuốt ve mái tóc của anh...), cả những giọt nước mắt của một người yêu bất hạnh, những nụ cười của người bạn chân thành, cả những sự khó chịu trước tính cách cứng nhắc của vị chính trị viên Bệnh viện hay bệnh hình thức của các buổi tự phê bình mà cô phải nghe những lời chỉ trích nguồn gốc tiểu tư sản của cô hay những ước mơ không thành của thiếu nữ đang yêu rồi lại thay bằng ước mơ khác (ngày nay, thanh niên tuổi hai mươi đều phải từ bỏ ước mơ riêng của mình. Giờ đây mơ ước là đánh thắng bọn cướp Mỹ…).
Ước mơ của Thuỳ Trâm năm năm sau đã trở thành hiện thực, nhưng Thuỳ Trâm không còn nữa… Một tên cướp Mỹ đã bắn cô khi tiến đến sát cô. Người ta chỉ chết có một lần, một hôm Thuỳ Trâm đã viết như vậy trong nhật ký. Chúng ta hãy đừng để những tên cướp, vì thiếu hiểu biết, vì thiếu trách nhiệm hay vì những ý định tốt đẹp mà giết cô một lần nữa.
Janine Gillon
Paris, tháng 9 năm 2010