Dấu hỏi kỳ thị trong lòng xã hội

LTS: Có một thứ rào cản rất lớn đối với phát triển kinh tế, xã hội, đó là vấn nạn kỳ thị của người Việt. Nó không hề xa vời mà tồn tại hằng ngày, ở nhiều khía cạnh, thậm chí như một thói quen từ vô thức của nhiều người.

Sống chung với kỳ thị

Vài năm trước, tôi vẫn còn nhớ một lần đang vất vả tìm đường ở Sài Gòn, hỏi một người trông xe ven đường rằng phố X ở đâu, thì nhận câu trả lời gây sững sờ: “Không chỉ đường cho thằng Bắc Kỳ”.

Tôi nổi giận, xuống xe và tranh cãi dữ dội với ông ta, thậm chí nếu không có người can và cả hai chỉ cần lời qua tiếng lại thêm, là chuyện này có thể dẫn đến ẩu đả. Tôi về nhà, viết lên Facebook và sau đó vội vã xóa đi (dù chỉ để giới hạn bạn bè), vì nó tạo ra một làn sóng thù ghét ghê gớm quá. Người ta vào chửi ông chú kia không ra gì cả.

Ảnh: L.G.

Ảnh: L.G.

Nếu tôi tiếp tục “leo thang”, đăng bài viết đó lên một nhóm có sức phủ rộng thì bạn có thể tưởng tượng được sự giận dữ mà nó tạo ra. Từ một cuộc va chạm sau câu nói mang màu sắc kỳ thị, bạn có thể khuấy lên một cuộc chửi bới lẫn nhau có quy mô gấp nhiều lần. Người ta giờ thậm chí có thể xin địa chỉ để “săn lùng” một ai đó hành động lệch chuẩn.

Bạn có thể nghĩ rằng không có cái giá nào phải trả trong những cuộc cãi vã trên mạng, nhưng suy nghĩ kỹ lại, tôi e rằng có. Sự giận dữ của dư luận có thể ngăn một ông chú khác nói thẳng ra ba chữ “thằng Bắc Kỳ” sau này, nhưng tâm lý kỳ thị vẫn ở đó, và thậm chí hằn sâu hơn. Ai đó trong đám đông sẽ củng cố thêm ẩn ức kỳ thị từ việc tham gia vào những cuộc tranh cãi kiểu vậy. Đây không phải một cuộc thảo luận xã hội. Đấy đơn giản là một cuộc ném đá và phe “yếu hơn” sẽ ghi nhớ, rồi mang nó trở lại đời sống, dưới dạng kín đáo hơn.

Không dễ để tẩy được những định kiến. Năm 2008, một cuộc khảo sát công khai quy mô quốc gia cho thấy 4-6% người Mỹ thừa nhận rằng họ không muốn bỏ phiếu cho bất kỳ ứng cử viên người Mỹ gốc Phi nào làm Tổng thống. Các học giả quốc tế cũng cho rằng kỳ thị, ở bất cứ đâu, không thực sự suy giảm trên thực tế, mà chỉ trở nên gián tiếp và ngấm ngầm hơn. Tại Việt Nam, chúng ta không còn thấy nhiều sự kỳ thị công khai như việc một công ty từ chối tiếp nhận người quê tỉnh X, nhưng sự nghi ngờ kiểu xì xầm “thằng đó quê X đấy” là có, thậm chí diễn ra hàng ngày, trong những cuộc chuyện phiếm.

Năm 2007, trong một bài báo có sức ảnh hưởng được xuất bản trên tạp chí American Psychologist, chuyên gia tâm lý Derald Wing Sue của Đại học Columbia đã định nghĩa sự kỳ thị ngầm trong dòng chảy ứng xử xã hội hàng ngày này là “công kích vi mô” (microaggression): “những lời nói, hành vi hoặc môi trường kỳ thị diễn ra thường nhật, cho dù là cố ý hay vô ý, thể hiện những ý tưởng thù địch, xúc phạm hoặc tiêu cực”.

Sự kỳ thị thể hiện theo những cách tinh vi và gián tiếp mà đến gần đây mới thực sự được thu hẹp trong các nghiên cứu tâm lý xã hội. Global Language Monitor, một công ty chuyên phân tích và theo dõi xu hướng sử dụng ngôn ngữ trên thế giới, thậm chí đã coi microaggression (công kích vi mô) là từ của năm 2015, ghi nhận mức độ phổ biến tăng vọt của nó trong ngôn ngữ hàng ngày. Đến giờ, nếu bạn gõ lên Google từ này, thì bản thân nó và các biến thể sẽ cho về hơn 2 triệu kết quả tìm kiếm.

Từ những nghiên cứu trên, chúng ta có thể cân nhắc khi rơi vào các tình huống bị kỳ thị. Ví dụ như khi tôi bị mắng là “thằng Bắc Kỳ”, đấy có thể là những lời rất nặng nề, nhưng trong một ngữ cảnh nhất định, nó đơn giản là chuyện cá nhân, có thể xảy ra hàng nghìn lần ở mức độ nhỏ hơn, mỗi ngày. Nó không phải chuyện một nhà máy treo biển không tuyển công nhân quê ở X, hay một chính sách nào đó có thể ai đó có gốc gác từ đâu rơi vào thế yếu.

Nó sẽ chỉ trở thành vấn đề nếu sếp tôi nói ra câu đó, kèm theo sự “đì đọt” công sở, chẳng hạn thế. Những vướng mắc riêng giữa từng cá nhân với nhau, nếu không có tính hệ thống và đi vào dòng thời sự chủ lưu, thường đến từ những ẩn ức góp nhặt, mà mỗi lần khuếch trương vấn đề riêng của mình, chúng ta có thể làm trầm trọng thêm sự tổn thương.

Câu chuyện ở đầu bài viết đã khép lại nhanh chóng, sau khi tôi gác lại bực bội và xóa bài đăng đi. Chúng ta chưa thể chấm dứt hoàn toàn sự kỳ thị, vì nó không phụ thuộc vào ý chí của bất cứ ai. Chúng ta chỉ có thể giảm đi các ẩn ức, bằng cách chỉ nhận diện và lên tiếng, khi nó thực sự đi vào chủ lưu, một cách có hệ thống.

Đấy có lẽ là cách mà chúng ta phải sống chung với nhiều vấn đề: thừa nhận tính thực tế ngầm của nó, nhưng cũng không cho phép nó đi vào trái tim hệ thống của chúng ta, cho đến khi nó biến mất hoàn toàn, từ trong nhận thức. Nếu có ngày hoàn hảo đó.

Phạm An

Một quyền lực vô hình

Định kiến vùng miền tồn tại ở nhiều dạng, chứ không chỉ có mấy câu nói xấu kiểu  “miền Tây sống không biết tiết kiệm” hoặc “mấy ông công tử Hà Nội làm gì có chí tiến thủ”. Hãy ví dụ: trong suốt nhiều thập kỷ, chúng ta có một khái quát được thừa nhận đến mức gần như hiển nhiên là “Tây giàu”. Từ quán nước đầu đình cho đến các dịch vụ công cộng của nhà nước đều có chính sách bán giá đắt hơn “cho khách nước ngoài”. Việc này trở thành thông lệ đến mức chẳng ai buồn xem xét và thấy nó xấu xí cả. Đó là định kiến vùng miền. Người Mỹ, người Anh hay người Nhật đã bị phân biệt đối xử trên đất Việt Nam suốt hàng thập niên vì “họ giàu”.

Ảnh: L.G.

Ảnh: L.G.

Phải đến khi kinh tế phát triển một chút, chúng ta mới nhận ra rằng thực ra cũng nhiều Tây nghèo. Nhiều khách du lịch đến Việt Nam cũng là người lao động, vất vả tiết kiệm cả đời mới dám bay một chuyến Đông Nam Á (vì rẻ). Rồi ta nhận ra rằng giàu hay nghèo gì cũng chẳng liên quan đến việc họ được đối xử ra sao. Bây giờ tất cả các cửa hàng đều có giá niêm yết, in trên thực đơn, và việc ai đó cố tình bán đắt cho khách nước ngoài giờ trở thành thứ đáng chê trách.

Đây không hẳn là một ví dụ về phân biệt vùng miền tại Việt Nam. Nhưng đây là một ví dụ để nhận ra rằng việc phân biệt đối xử rất dễ hình thành. Vì khái quát hóa về một vùng đất là thứ rất dễ xuất hiện trong văn hóa (thậm chí nó thường xuyên trở thành chất liệu của văn học nghệ thuật). Chúng ta không chỉ khái quát về “Tây giàu” và “Ta nghèo”, chúng ta sẽ luôn khái quát “miền Tây” thế này, “miền Trung” thế kia, Hải Phòng là A và Đà Nẵng là B. Và đã là khái quát thì hiển nhiên sai.

Cách đây gần một thập niên, nhiều tờ báo phản ánh về một thực tế: các lao động Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh (hay được gọi là “dân vùng 4” theo tên của Quân khu 4) bị kỳ thị ở các KCN khu vực Đông Nam Bộ. Một số doanh nghiệp tại Bình Dương công khai chính sách: không tuyển lao động Thanh Hóa, Nghệ An. Hiện tượng này sau đó bị lên án mạnh mẽ, và không còn tấm biển nào tuyên bố ngang ngược như vậy nữa; nhưng các điều tra nhập vai của báo giới sau đó thu về các thông điệp ngầm: “Có nhận hồ sơ rồi cũng dễ bị đánh trượt nếu đến từ các tỉnh này”.

Thời đó, có một số ý kiến giải thích qua loa từ phía nhà tuyển dụng, rằng các địa phương này có chủ nghĩa cục bộ cao, hay kéo bè kéo cánh làm… mất đoàn kết trong công ty (?). Đó cũng là một khái quát được nhiều người tin tưởng.Chuyện lắng đi một thời gian sau sự lên án mạnh mẽ từ dư luận. Nhưng đến năm 2020, lại xuất hiện một biển tuyển dụng công nhân điện tử tại Bình Dương với dòng ghi chú: “Không tuyển người thanh hóa, nghệ an, hà tĩnh” (không viết hoa chữ nào). Ví dụ thứ hai này kể cho chúng ta một đặc tính khác của phân biệt vùng miền. Đó là nếu nó đã hình thành thì rất khó xóa bỏ, bởi vì nó là cái giả định nằm trong đầu con người và được truyền khẩu – trở thành một tập quán văn hóa chứ không phải một chính sách xã hội – nên rất khó điều chỉnh.

Trong ví dụ thứ ba, chúng ta sẽ bàn về việc thật ra phân biệt vùng miền có dễ nhận diện không? Nếu nói “Thanh Hóa kiệt xỉ” thì tất nhiên là xấu; nhưng có những kịch bản khiến ta tự hỏi rằng liệu đó có phải chủ nghĩa xô-vanh hay không?

Đó là khi trong chính sách đào tạo và bồi dưỡng nhân tài của nhiều tỉnh thành, có phần ghi chú rất rõ rằng người được nhận bồi dưỡng phải “có hộ khẩu tại địa phương”. Trong các bản báo cáo thành tích, thường xuyên có phần khẳng định rằng chính sách này đã giúp các nhân tài “đóng góp cho quê hương”.

Nếu như các hỗ trợ cho nhân tài đã bao gồm cam kết họ phải làm việc tại địa phương, thì có vấn đề gì với việc đào tạo người sinh ra ở nơi khác, miễn là họ giỏi? Nhân tài đóng góp cho quê cha đất mẹ thì tốt hơn nhân tài đóng góp cho nơi họ gọi là nhà chăng? Điều này nghe hơi vô lý, thậm chí có thể lập luận ngược lại: khi một người chọn một nơi xa nhà để cống hiến, có lý do để tin rằng động lực của họ lớn hơn một người vốn đã có nhà cửa ở đó.

Nói tóm lại, khi bàn về chủ nghĩa phân biệt vùng miền, chúng ta nhận ra 3 đặc tính gây bối rối: nó rất dễ hình thành – nó rất khó xóa bỏ triệt để - và cuối cùng là nó không dễ nhận diện. Nó là một con bạch tuộc vô hình, và có thể ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc đời con người. Hãy tưởng tượng rằng bạn là một lao động miền Trung tha phương, và bơ vơ giữa đất Bình Dương mà không biết vì sao mình không thể tìm được việc làm.

Và để can thiệp vào thứ này; cần tìm cách chặt đi những cái xúc tu gây ảnh hưởng lên xã hội của nó. Đây là lúc vấn đề lộ ra. Bạn có thể ngạc nhiên, khi biết rằng nếu một doanh nghiệp treo biển “Không tuyển lao động X”, họ sẽ không bị phạt. Luật Lao động hiện nay chỉ điều chỉnh các “Phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, màu da, thành phần xã hội, tình trạng hôn nhân, tín ngưỡng, tôn giáo, nhiễm HIV, khuyết tật hoặc vì lý do thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn”. Chưa có chữ nào về phân biệt vùng miền.

Nếu Luật được quy định đầy đủ và chặt chẽ, ta sẽ xử phạt và tiêu diệt được phân biệt vùng miền trong tuyển dụng, dù cho cái chính sách tuyển dụng đó chỉ được nói bằng lời; thậm chí ta có quyền xét lại xem trong chính sách bồi dưỡng nhân tài của tỉnh nọ có phần ưu tiên cho người địa phương, thì đó có phải là phân biệt vùng miền không. Ta chỉ chống lại được một vấn đề nếu định nghĩa được nó.

Nhưng đã bàn đến việc xây dựng luật, nó hiển nhiên sẽ là một câu chuyện rất dài. Và đôi khi dài như một ước mơ.

Đức Hoàng

Sự phổ biến đáng sợ

Một đêm nọ, cách đây vài năm, tại nhà của một họa sĩ có tiếng, chúng tôi tụ tập quanh chai rượu, nói chuyện văn nghệ. Rồi một “nhà” ào đến (gọi là một “nhà” vì ông có nhiều danh xưng rất kêu liên quan đến đủ lĩnh vực, từ thi ca, âm nhạc cho tới triết học), hồn nhiên vô cùng. Phải thừa nhận, ông nói chuyện rất hấp dẫn. Tất cả đều hào hứng nghe những gì ông nói như nuốt từng lời.

Sau một bài nói dài của ông, mọi người nâng ly. Tôi khẽ xin phép được sửa một từ ông mới nói ra. Thú thực, tính tôi cũng kiêu, đặc biệt chẳng sợ những “nhà” như kiểu này. Và khi được sự đồng ý, tôi nói: “Từ “phân biệt chủng tộc” mà anh nói thật ra là sai. Phải dùng từ “kỳ thị chủng tộc” mới đúng”. Quan điểm của tôi rất rõ ràng. Phân biệt không phải là xấu. Thế giới vốn đa dạng, và con người nên biết phân biệt để nhận ra vẻ đẹp đa dạng ấy. Nhưng phân biệt để trân trọng khác biệt chứ không phải để kỳ thị khác biệt”.

Mọi người tán đồng quan điểm của tôi đưa ra. “Nhà” kia cũng tán đồng, dù còn ngập ngừng và băn khoăn biện giải thêm. Nhưng câu chuyện của bàn tiệc hôm ấy rẽ hướng. Chúng tôi nói rất nhiều về thói kỳ thị vùng miền đang tồn tại trong xã hội Việt Nam hôm nay. Thực tế, tôi cũng từng là nạn nhân của kỳ thị vùng miền. Vào Nam lập nghiệp 20 năm, cũng tham gia vài chương trình này kia cho các kênh truyền hình. Cho đến một lần, tôi được nhà sản xuất chương trình của một kênh tâm sự là “Giám đốc đài anh cực thích chú nhưng ông ấy nói không đưa chú lên sóng được vì chú nói giọng Bắc Kỳ”.

Tôi không quá buồn hay hụt hẫng vì “mất cơ hội chạy show”. Tôi cũng chẳng buồn vì bị kỳ thị là “thằng Bắc Kỳ”. Cơ bản, tôi quen rồi. Từng có lần, trong một cuộc trà dư tửu hậu, một người anh rất thân của tôi buột miệng: “Anh không bao giờ thích tuyển Bắc Kỳ vào công ty của mình”. Biết là lỡ lời, sau đó anh ấy có xin lỗi tôi nhiều lần dù tôi nói “em không giận” và quả thực tôi chẳng giận. Tôi trơ rồi.

Cái sự kỳ thị người từ vùng miền khác, địa phương khác khá phổ biến trong xã hội nhưng thực tế, chúng ta đừng vội nghĩ chỉ có vùng miền, địa phương khác mới bị kỳ thị. Chúng ta rất dễ kỳ thị nhau, như thể từ vô thức chúng ta đã đeo mang định kiến kiểu đó rồi. Và chúng ta kỳ thị bằng mọi thứ khác biệt mà chúng ta nhận ra từ người khác. Đơn cử, từng có thời, ở ngay Hà Nội thôi, khi bắt đầu vào trường PTTH, nhiều học sinh đến từ các quận, huyện vùng ven bị đám “trai phố cổ” nhìn như “lũ nhà quê”. Đấy là một dạng kỳ thị tinh vi mà chúng ta nhiều khi lại không nghĩ là kỳ thị.

Một cái kỳ thị phổ biến khác, không xét đến xuất xứ địa lý, chính là kỳ thị nghề nghiệp. “Mấy thằng thi đại học ba môn chín điểm chẳng biết làm nghề gì thì đi làm báo” hay “bọn nhà báo” là một dạng ngôn ngữ kỳ thị nghề nghiệp khốc liệt nhất, và phổ biến nhất trên mạng xã hội hôm nay. Nhìn sâu về lịch sử, nó cũng chả khác gì cái kỳ thị “đám xướng ca vô loài” hay “đồ nhà mõ” ở thời các cụ ngày xưa. Nó gần như một kỳ thị giai tầng khi kẻ kỳ thị cố xác lập cho mình một vị thế ở trên kẻ bị kỳ thị.

Và sự kỳ thị trong xã hội Việt lại càng được tiếp xúc bởi xu hướng đám đông. Ví dụ để kể ra thì nhiều, nhưng điển hình nhất là câu chuyện liên quan đến văn nghệ gần đây. Một đạo diễn điện ảnh nổi tiếng tâm sự với tôi rằng: “Anh rất thích làm phim chân thực về giọng nói. Nhân vật gốc Bắc phải nói giọng Bắc, nhân vật gốc Nam phải nói giọng Nam, nhân vật gốc Trung phải nói giọng Trung. Nhưng khó lắm em ạ. Phim mà như thế, phát hành họ từ chối. Họ nói khán giả miền Nam nhiều, họ thích nghe giọng Nam”. Đó có phải là kỳ thị không?

Một câu chuyện khác, gần đây, một công văn đề nghị hỗ trợ nghệ sỹ khó khăn được đưa ra. Thế là rất nhiều ý kiến cho rằng “nghệ sỹ giàu như thế, không lo hỗ trợ chống dịch thì thôi, còn đi xin”. Họ đều không hiểu thực tế là số lượng nghệ sỹ giàu rất hiếm. Họ chỉ nhìn vào những ca sỹ, diễn viên điện ảnh mà quên mất rằng một nghệ sỹ rối nước, xiếc cũng là nghệ sỹ. Có những người đã phải đi chạy xe ôm công nghệ khi dịch COVID-19 không cho họ điều kiện đi diễn nữa. Định kiến rằng nghệ sỹ giàu đã sinh ra một thứ kỳ thị dễ dãi đối với nghệ sỹ mà số đông là những người eo hẹp vô cùng.

Chúng ta đã trải qua rất nhiều kiểu kỳ thị kỳ lạ trong xã hội này. Như có thời, người ta kỳ thị bằng cấp, kỳ thị trường dân lập với quan điểm “bọn học dân lập toàn bọn học dốt, trượt đại học công lập mới vào dân lập”. Tôi vẫn không thể quên, bạn tôi, học đại học Mở, từng thảng thốt khi trong một trận bóng đá thuộc giải sinh viên Hà Nội, khán đài có một biểu ngữ miệt thị các bạn học trường Mở là “Ngủ mơ” (nói lái).

Tôi quen một lãnh đạo của một đoàn ca múa nhạc ở một địa phương vùng cao. Trong đoàn, có cả người Kinh lẫn người dân tộc thiểu số. Và ngay trong đoàn, họ cũng đùa giỡn vô thức gọi người Kinh là “xanh nhạt” và người thiểu số là “xanh đậm”. Cái đùa của họ tưởng dễ bỏ qua, nhưng hoá ra, với mấy anh em người thiểu số, họ coi đó là một nỗi đau mà họ không thể nói ra.

Và kỳ thị phổ biến ở ta lại không đến từ định kiến của “văn hoá thấp” mà ngay cả giới trí thức cũng vô tình lậm vào nó khá nhiều. Những người được du học nước ngoài nhìn những đồng nghiệp học trong nước đầy kỳ thị, với quan niệm “bọn ếch ngồi đáy giếng”. Ngược lại, những người trong nước lại kỳ thị “đám nước ngoài về” là “lũ vong bản”. Kỳ thị này dễ bật lên trong các tranh luận về các vấn đề xã hội và ở thời mạng xã hội là công cụ hữu hiệu để biểu đạt này, nó xuất hiện phổ biến hơn rất nhiều.

Sự kỳ thị đến từ đâu? Có thể từ chính việc xã hội chưa tồn tại một hệ giá trị chung để người ta có thể dựa vào đó mà đánh giá mọi khác biệt một cách logic và bình tĩnh hơn. Cũng có thể nó xuất xứ từ chính các thất vọng, thất bại cá nhân và họ có nhu cầu công kích một ai đó, một nhóm nào đó cụ thể. Họ tìm chỗ dựa ở các đám đông, coi đám đông ấy là ưu việt hơn phần khác biệt còn lại, để từ đó kỳ thị bắt đầu.

Xã hội luôn tồn tại mâu thuẫn. Điều đó ai cũng biết. Và xã hội Việt Nam thực tế còn may mắn khi sự kỳ thị sắc tộc, chủng tộc, màu da không phổ cập bởi sự đồng nhất chủng tộc. Chúng ta không gặp các vấn đề nan giải như các nước phương Tây về thứ kỳ thị này nhưng thực tình, các kỳ thị khác như kỳ thị địa phương, nghề nghiệp, giai tầng… cũng cản trở phát triển và tiến bộ nhiều.

Đôi khi, chúng ta ngỡ chỉ là câu nói đùa, không chết ai cả, như cái cách chúng ta vẫn nghe “người nước Huệ” (ám chỉ người Huế), “người nước ngoài kia” (ám chỉ người Bắc) nhưng thực chất, nó tạo ra các đường biên rất nguy hại cho cộng tác, cho làm việc nhóm, cho xây dựng tập thể, những yếu tố vô cùng quan trọng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu… hôm nay.

Hà Quang Minh

Phạm An - Đức Hoàng - Hà Quang Minh

Các tin khác

Eo biển đóng và khe cửa mở hờ

Eo biển đóng và khe cửa mở hờ

Trong khi dư luận quốc tế còn đang cố gắng tìm lời giải cho việc Nhà Trắng tuyên bố tạm dừng chiến dịch quân sự "Dự án Tự do" nhằm hỗ trợ tàu thuyền di chuyển qua eo biển Hormuz - động thái bất ngờ kế tiếp, nhưng không còn làm mấy ai ngạc nhiên, trong chuỗi vô tận những diễn biến không thể lường trước từ Tổng thống Mỹ Donald Trump - thì dường như, qua một số thông tin bên lề được hé lộ, "chân tướng" của sự thực cũng đã lờ mờ hiện lên, sau lớp hỏa mù.

Nhịp sống Việt Nam

Nhịp sống Việt Nam

Những ngày gần đây, báo chí và mạng xã hội ở xứ Kim Chi cũng như Việt Nam vẫn dành sự quan tâm về chuyến thăm Việt Nam cuối tháng 4/2026 của Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung và Phu nhân Kim Hae Kyung. Đặc biệt, hình ảnh vợ chồng tổng thống thảnh thơi bách bộ phố cổ Hà Nội và thưởng thức món phở, cơm rang, kem... nhận được sự tán thưởng hào hứng của người dân cũng như cộng đồng mạng ở cả hai nước.

Trung Đông, trong những đám hỏa mù

Trung Đông, trong những đám hỏa mù

Giới quan sát quốc tế có lẽ đã quá quen với việc bình tĩnh chờ đợi thêm những dữ liệu đối chứng cần thiết, cho dù vừa thấy bảng tin tức của mình nhảy lên những điều có vẻ “nóng bỏng”, nhất là sau hàng tuần nối nhau, những tuyên bố trái chiều vẫn cứ tiếp tục vọng đến từ Trung Đông. Tuy vậy, khi không quá tập trung vào các điểm nóng chiến sự, có thể, những tia sáng mờ nhạt nào đó lại le lói hắt lên.

Giá trị của Hòa bình

Giá trị của Hòa bình

LTS: Những ngày cuối tháng Tư luôn đặc biệt đối với người Việt. Đó là dịp Tết Thống nhất, Tết Hòa bình. Năm nay, dịp Tết ấy đến ngay sau Giỗ tổ Hùng Vương, với lời nhắc của Bác Hồ vẫn mãi sáng ngời chân lý "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước…".

Nhiều “nút thắt” trong đối đầu Mỹ-Iran

Nhiều “nút thắt” trong đối đầu Mỹ-Iran

Trung tuần tháng 4/2026, các kênh ngoại giao Mỹ - Iran được kích hoạt ở mức cao hiếm thấy, Pakistan trở thành đối tác trung gian then chốt. Truyền thông phương Tây và khu vực nhắc tới khả năng có thỏa thuận xoay quanh trao đổi hạn chế hạt nhân để lấy nới lỏng trừng phạt và tiếp cận tài sản bị phong tỏa.

Kinh tế thế giới trở thành con tin của cuộc xung đột Iran

Kinh tế thế giới trở thành con tin của cuộc xung đột Iran

Cuộc xung đột quân sự tại Iran bùng nổ từ cuối tháng 2/2026 đang khiến nền kinh tế toàn cầu trải qua cú sốc năng lượng lớn chưa từng có trong lịch sử hiện đại. Giá dầu tăng vọt, lạm phát khiến cỗ máy kinh tế toàn cầu khựng lại. Những hệ lụy kéo theo sẽ còn tác động lâu dài đến cuộc sống của chúng ta. Một lần nữa, nền kinh tế toàn cầu lại trở thành con tin của các quyết sách chính trị.

Hai vòng phong tỏa, một điểm nghẽn

Hai vòng phong tỏa, một điểm nghẽn

Nỗ lực hạ nhiệt căng thẳng Mỹ - Iran thông qua đàm phán trực tiếp đang rơi vào bế tắc khi hai bên theo đuổi logic hoàn toàn trái ngược: Washington muốn một thỏa thuận nhanh dưới sức ép tối đa, còn Tehran kiên trì chiến lược kéo dài để bảo toàn lợi ích cốt lõi. Sự lệch pha này khiến tiến trình ngoại giao đình trệ, đồng thời gia tăng rủi ro tại eo biển Hormuz - huyết mạch năng lượng toàn cầu.

"Tang đạo mãn điền, hoa mãn san"

"Tang đạo mãn điền, hoa mãn san"

Chuyến thăm cấp nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Trung Quốc đã thành công rất tốt đẹp. Đó là một chuyến thăm dày đặc lịch hoạt động, tận dụng tối đa từng giờ để vun đắp, củng cố mối quan hệ sâu sắc giữa hai nước, đồng thời tìm hiểu thực tế, tham khảo các mô hình phát triển hiệu quả. Điều đặc biệt, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kết thúc chuyến thăm và trở lại Việt Nam bằng tàu hỏa như một thông điệp: quan hệ Việt Nam – Trung Quốc ngày càng hữu nghị, hợp tác, là sự kết nối liền mạch, là dòng chảy không thể đảo ngược, vì hòa bình và hạnh phúc, phồn vinh của nhân dân hai nước. Đó cũng là bức tranh thái bình, trù phú, an yên mà Bác Hồ kính yêu đã khắc họa 65 năm trước “Tang đạo mãn điền, hoa mãn san”...

Nạn nhân tiềm tàng của xung đột Trung Đông

Nạn nhân tiềm tàng của xung đột Trung Đông

Trung tuần tháng 3/2026, các cuộc không kích của Israel nhằm vào những cơ sở năng lượng thượng nguồn tại mỏ khí South Pars, nơi chiếm 70% sản lượng khí đốt nội địa của Iran, đã mở ra một chương leo thang mới trong xung đột Trung Đông.

Ở rất xa cuộc chiến

Ở rất xa cuộc chiến

Thời điểm hiện tại, chiến dịch quân sự tại Trung Đông là ưu tiên hàng đầu của Tổng thống Mỹ Donald Trump. Song, có lẽ, chuyện ông liên tục cập nhật các diễn biến và ý tưởng của mình về cuộc chiến ấy và làm xôn xao các nền tảng mạng xã hội cũng không thể đẩy lùi được một thời hạn đầy thách thức: Tháng 11/2026, cuộc bầu cử Quốc hội giữa kỳ sẽ diễn ra.

Khủng hoảng an ninh lương thực đang chực chờ

Khủng hoảng an ninh lương thực đang chực chờ

Sự hỗn loạn trong đại dương thông tin chiến sự đang khiến bất kỳ một nhà phân tích quốc tế nào cũng không thể đưa ra những dự báo chắc chắn về kết cục của cuộc xung đột quân sự ở Trung Đông. Tuy nhiên, những hệ lụy ghê gớm của nó thì ngược lại, hoàn toàn có thể dễ dàng nhận diện.

Lợi ích quốc gia - dân tộc trên hết

Lợi ích quốc gia - dân tộc trên hết

Trong những ngày này, tâm trí của người dân cả nước và cả Việt kiều ở nước ngoài đều hướng về phòng họp lớn Diên Hồng, nơi đang diễn ra kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI.

Ứng xử với xưa cũ

Ứng xử với xưa cũ

LTS: Những gì cổ hủ, lạc hậu ắt là xưa cũ. Nhưng có phải những gì xưa cũ cũng đều cổ hủ, lạc hậu hết hay không? Ứng xử với xưa cũ thế nào để đảm bảo vẫn giữ tốc độ tăng trưởng tiến bộ và vừa không “đánh rơi” đi mất phần tinh thần?

Lựa chọn hiền tài và kiến tạo phát triển

Lựa chọn hiền tài và kiến tạo phát triển

Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI vừa khai mạc tại Thủ đô Hà Nội với nhiều nội dung quan trọng, đặc biệt là việc kiện toàn các chức danh lãnh đạo chủ chốt của quốc gia cũng như định hình chương trình, nội dung hoạt động của toàn khóa, đặt nền móng cho sự phát triển của đất nước trong 5 năm tới.

World Cup 2026 trước biến số Iran

World Cup 2026 trước biến số Iran

Xung đột leo thang giữa Mỹ - Israel và Iran đang đẩy World Cup 2026 vào tình thế đặc biệt khi khả năng Iran không thể tham dự trở thành kịch bản hiện hữu. FIFA đang phải đối mặt với bài toán phức tạp chưa từng có liên quan đến pháp lý, thay thế suất dự giải và đảm bảo an ninh - điều từng xuất hiện trong lịch sử nhưng chưa bao giờ ở quy mô của một kỳ World Cup hiện đại.

Khi Thổ Nhĩ Kỳ có quyền “mặc cả” với châu Âu

Khi Thổ Nhĩ Kỳ có quyền “mặc cả” với châu Âu

Cuộc chiến tại Iran nổ ra cuối tháng 2/2026 làm rung chuyển thế giới, đồng thời vẽ lại bản đồ địa chính trị khu vực. Trong đó, Thổ Nhĩ Kỳ, với vị thế đặc biệt của mình, đang tận dụng cơ hội để giành lấy lợi thế trong một "ván cờ" khác.

Trước biến động thời cuộc

Trước biến động thời cuộc

LTS: Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo; những diễn biến bất thường về địa chính trị; các quyết định áp đặt thuế quan gây shock; giá cả nhiên liệu thay đổi đột biến dẫn tới biến động mạnh ở các thị trường v.v... và vv… Thế giới đang tiếp tục theo cách đó và tạo ra những vòng xoáy chóng mặt. Trước các biến động thời cuộc như thế, một cá nhân con người, một công ty, một ngành, thậm chí cả một quốc gia, cần phải đối diện chúng theo cách nào?

Lời hứa không thành hiện thực

Lời hứa không thành hiện thực

Ông Donald Trump trở lại Nhà Trắng với cam kết không mở thêm chiến tranh, không đẩy nước Mỹ vào những cuộc can dự quân sự tốn kém ở bên ngoài. Nhưng, chiến dịch quân sự nhằm vào Iran cuối tháng 2/2026 đã khiến chính lời hứa đó trở thành điểm dễ bị phản công nhất về chính trị.

Thảm kịch mới, và những đường nét cũ

Thảm kịch mới, và những đường nét cũ

Song song với những ý niệm về các hệ lụy đã trở nên quen thuộc với bất cứ ai, khi căng thẳng địa chính trị ảnh hưởng trầm trọng đến khả năng vận hành trơn tru của hệ thống kinh tế - xã hội toàn cầu, có một khía cạnh bi thương khó cảm nhận hơn: Sự phác họa và hình thành những cuộc khủng hoảng nhân đạo mới, bên cạnh sự cùng quẫn trong các bi kịch vẫn còn chưa khép lại - điều thường bị che khuất và lãng quên.

Ươm mầm xanh cho tương lai

Ươm mầm xanh cho tương lai

Theo quan niệm của người xưa, vũ trụ có 3 nhân tố cơ bản là Thiên - Địa - Nhân (tức là trời, đất và người). Như trong “Tam tự kinh” có câu “Tam tài giả: Thiên - Địa - Nhân/ Tam quang giả: Nhật - Nguyệt - Tinh”... Trải qua các giai đoạn phát triển của lịch sử, cũng như nhiều quốc gia, dân tộc, Việt Nam hình thành nên truyền thống sống hòa hợp với thiên nhiên (thuận thiên) và luôn coi trọng con người (dân vi bản). Chính vì vậy, chăm lo giáo dục, đào tạo con người là nhiệm vụ xuyên suốt (vì lợi ích trăm năm trồng người)...