Một góc nhỏ nào đó của Hà thành, sau những cuộc nhậu tàn canh với bạn bè, những thức tỉnh sau cơn mê, Cẩm vẫn lặng lẽ ngồi đó, đôi mắt hoang vu nhìn về một cõi xa xăm,… tựa hồ như không có trong đời thực… Cái bóng dáng bé nhỏ, phiêu diêu hằn trong vệt nắng chiều đông lạnh lẽo, khiến tôi có cảm giác, gã lãng tử Hoàng Hồng Cẩm chưa bao giờ cô đơn đến thế…
1. Cẩm ngồi giữa đám đông bạn bè, nhấp từng ngụm rượu nhạt, mắt lim dim mơ màng về một cõi xa xăm. Dường như ngay giữa chốn đông người toàn những bạn tâm giao ấy, Cẩm như vẫn thuộc về một cõi khác, phiêu diêu, vô định, không nơi nương tựa… rồi bỗng dưng, Cẩm cất tiếng hát, điệu quan họ quen thuộc, đã nằm lòng trong Cẩm từ khi cha mẹ sinh… Mỗi lần hát quan họ, Cẩm rơi vào trạng thái lên đồng, quên hết trời đất, quên cả những người đang đứng quanh mình đến nỗi lúc đó, người nghe cũng sẽ quên mất Cẩm là họa sĩ, mà chỉ thấy một nghệ nhân liền anh quan họ thứ thiệt mà không cần đến sự hỗ trợ của các liền chị.
Cẩm kể, ba giờ sáng nay, bỗng dưng có một người bạn, về Hội Lim, trong la đà men rượu, bỗng dưng nhớ Cẩm, mà quên mất thời gian, gọi điện kêu toáng lên là nhớ Cẩm, nhớ quan họ ngay khi đang ở giữa lòng quan họ. Và thèm được nghe Cẩm hát. Thế là cả đêm thao thức mất ngủ. Tiếng quan họ, từ trong tiềm thức dội về, nghe da diết, quyến luyến. Không phải ngẫu nhiên, người bạn đó bỗng dưng nhớ Cẩm, khi đang ở giữa Hội Lim, mà thèm nghe tiếng hát của Cẩm đến thế, một thứ quan họ thô mộc, nguyên sơ, không pha tạp bởi bất cứ một chút gia vị nào.
Cẩm mê quan họ, dòng máu Kinh Bắc của cha chảy trong huyết quản gã trai Hàng Dầu này từ khi còn bé, được may mắn theo hầu cha, cố họa sĩ Hoàng Lập Ngôn, tham dự vào những thú mê bất tận của người cha tài hoa, nổi tiếng xứ kinh kỳ xưa. Mê đến nỗi mà bạn bè Cẩm ở làng quan họ, ngày nào cũng gọi, có dịp gì cũng tha thiết mong Cẩm về, đến nỗi mà xứ Kinh Bắc, Cẩm chưa từng lớn lên ở đó một ngày nào, mà như trở thành máu thịt của chàng lãng tử Hà thành, rong ruổi suốt một đời khắp chốn cùng nơi vẫn quay trở về với gốc rễ, nguồn cội của mình.
2. Cẩm giờ không còn để đầu trọc mà đội mũ, đi dày bệt, ăn mặc xù xì hệt như một gã lãng tử không hề bận tâm đến hình thức hay những thứ màu mè. Thậm chí xa lạ cả với những thứ hiện đại, văn minh. Xù xì, thô mộc, có phần chát chúa cả trong cách nói năng, khiến ai đó lần đầu tiên gặp Cẩm chắc chỉ muốn nhảy bổ vào giáng cho Cẩm một cú đấm. Nhưng hiểu thì thấy thú vị, đó là cách riêng của Cẩm, cách Cẩm tồn tại, đến và đi trong đời, mà không bận tâm, ai nghĩ gì về mình. Sự tồn tại của Cẩm, gần như không quan tâm đến xung quanh. Mặc nhiên vậy. Cẩm cứ độc hành trong cõi đời. Giao đãi nhiều, bạn bè ngồi nhậu đâu cũng nhớ Cẩm, từ
Nếu Cẩm không ngẫu hứng ngồi vào đàn. Và khi Cẩm đàn, thì mọi thứ xù xì, gai góc thường ngay dường như tan biến. Cũng như khi Cẩm hát quan họ vậy, một Hoàng Hồng Cẩm nghệ sĩ đích thực của những niềm đam mê bất tận. Những ngón tay lướt nhẹ tên phím đàn, ru mình vào một cõi phiêu bồng, khiến Cẩm thoát thai thành một con người khác. Lãng tử, hào hoa đến lạ. 10 năm nay, Cẩm chỉ chơi độc một bài, Hạ trắng của Trịnh. Cẩm không lý giải cho những cơn cớ bất thường của mình. Nhưng tôi hiểu, tiếng đàn piano, như một chốn nương thân cho những lúc Cẩm bất lực trước toan và giá vẽ của mình. Giải thoát Cẩm khỏi những cơn mê sảng triền miên của tâm thức. Âm nhạc ma mị của Trịnh đã chạm tới miền tâm cảm phiêu linh của gã lãng tử Hà thành này… Cứu rỗi tâm hồn Cẩm khỏi những nỗi buồn, hay những cơn trầm cảm. Gọi nắng trong cơn mê chiều, nhiều hoa trắng bay... Gọi tên em mãi trong cơn mê này…
3. Nhưng piano hay hát quan họ và cả những niềm đam mê khác chưa thể làm nên Cẩm, một Hoàng Hồng Cẩm đích thực, ấy là Cẩm của hội họa, giấc mơ cả đời Cẩm đã sống chết với nó, mà vẫn thấy mình chưa chạm tới, vẫn là những khao khát không cùng.
Cẩm là cậu ấm của cố họa sĩ Hoàng Lập Ngôn, người nổi tiếng bởi trường phái tinh giản tướng trong hội họa đã đi vào cõi vĩnh hằng bằng những giai thoại về những cuộc rong chơi bất tận của một lãng tử Hà thành thực thụ. Từ nhỏ, Cẩm được theo hầu cha, và ít nhiều chịu ảnh hưởng bởi thế giới của ông. Cẩm may mắn được tiếp xúc với nhà văn Nguyễn Tuân, nhạc sĩ Lương Xuân Khoát, họa sĩ Dương Bích Liên, nhà thơ Hoàng Cầm, nhà thơ Phùng Cung, họa sĩ Nguyễn Sáng, họa sĩ Bùi Xuân Phái… Không khí nghệ thuật đó đã ngấm trong huyết mạch của Cẩm, trở thành một quan điểm sống, quan điểm làm nghề, "đã làm nghệ thuật thì phải đích thực, không giả dối, không thị trường". Nên ngày nhỏ dù đã chọn kịch, nhưng những ám ảnh trong tiềm thức của hội họa cứ dẫn dụ Cẩm, đưa anh lạc bước vào đó, như một người tình, càng yêu càng say đắm. Cẩm thì chỉ bảo, "tôi thấy cử chỉ hội họa của bố tôi đẹp thì theo".
Hội họa đã làm nên Hoàng Hồng Cẩm, của ngày hôm nay. Một thứ hội họa thuần chất, tinh khiết, mà không bị pha tạp hay trộn lẫn với kinh doanh hay thị trường. Nhiều người bảo Cẩm là kẻ lạc thời, nhưng Cẩm mặc, lạc thời mà giữ được đạo với nghệ thuật, đó mới là Hoàng Hồng Cẩm. Bao nhiêu năm Cẩm vẫn sống trong căn nhà nhỏ này, đi lại bằng chiếc xe cà tàng. Cẩm dường như xa lạ với những thứ hiện đại, văn minh. Phiêu lãng trong cõi đời mà không để ý cuộc sống đang cuốn trôi mọi thứ trong dòng chảy gấp gáp của hiện đại, của nhà lầu, xe hơi, của internet. Cẩm, như từ ngàn xưa vẫn vậy. Một mình một cõi. Một mình một lối đi. Một mình một cách sống. Không trộn lẫn vào ai. Thuần chất đến thô mộc.
Trên góc giá vẽ để giữa nhà, bên bức tranh vẫn còn chưa ráo mực, Cẩm ghi dòng chữ của họa sĩ Bùi Xuân Phái, như một châm ngôn về nghề "Vẽ đi, kẻo tiếc con tim đập đi đập lại rồi im lúc nào". Một lời nhắc nhở chính mình. Mà không, nhắc chính những rung cảm trong tim mình. Tôi nhìn rất sâu vào bức họa Cẩm vừa vẽ. Vẫn hình ảnh người đàn bà cô đơn, trở thành nỗi ám ảnh trong tranh của Cẩm. Bức tranh có tựa đề "Nhớ quê". Có những lúc Cẩm ngồi một mình ở hàng chè chén đầu ngõ, nhưng lòng đau đáu nhớ quê, có cảm giác như muốn trả một món nợ với quê và luôn day dứt chưa biết bao giờ mới trả hết cho nó. Những người đàn bà ngồi cô đơn như thế, họ vẫn nhớ về quê. Và có lẽ trong tiềm thức mỗi con người, ai cũng nhớ về một miền quê nào đó. Nơi họ xuất phát và cũng là nơi chốn cho họ trở về sau những vật vã mưu sinh nơi phố thị. Nhưng ngay cả trong miền tâm tưởng nhớ thương ấy, Cẩm vẫn chỉ một mình, tranh của Cẩm vẫn đông đặc một nỗi cô đơn thành hình thành khối.
4. Cẩm đi nhiều, phiêu bạt đời mình vào những cuộc rong chơi, bất kể thời gian. Đi để thâu nhận. Đi để vẽ. Hà Nội quá rộng lớn, nhưng lại quá chật chội để tìm được một góc yên tĩnh cho mình. Bên trong cái vẻ xù xì, gai góc của Cẩm là một nội lực tràn đầy cảm hứng, tinh khiết và nguyên sơ trước cuộc sống. Tranh của Cẩm đã xác định một lối đi riêng, bền bỉ không lẫn vào bất cứ ai, cũng không bị che lấp bởi cái bóng quá lớn của cha mình. Vẽ để giải thoát mình khỏi những ẩn ức, của nỗi nhớ quê, nhớ bạn bè, và nhớ cả chính mình. Dù có lúc Cẩm đã thốt lên rằng, "trốn nỗi buồn thôi", nhưng có lẽ Cẩm cả đời sẽ không bao giờ trốn được nỗi buồn, nỗi buồn như một nghiệp chướng ám ảnh, đeo bám vào đời Cẩm, in hằn bóng dáng trong đôi mắt sau thẳm của Cẩm, vệt lên nỗi cô đơn trong tranh Cẩm. Một khối đông đặc, không chia sẻ, không vơi bớt. Cẩm bảo, bản chất của con người là cô đơn. Người nghệ sĩ, càng cô đơn. Con người giao đãi nhiều đến thế, bạn bè tứ chiếng, vậy mà có những lúc Cẩm trốn ở nhà, tắt điện thoại hàng tháng. Bảo với bạn bè, Cẩm trốn để vẽ. Nhưng thực ra Cẩm đang chạy trốn chính mình, khỏi những cơn mê trong tâm tưởng.
Cẩm không uống nhiều, nhưng lúc nào cũng như trong trạng thái say, say mà tỉnh, tỉnh mà say. Mê mê, thực thực. Tôi gọi Cẩm là gã lãng tử còn sót lại của đất Hà thành. Gã lãng tử sống trong đời không màng đến chức tước, địa vị, mà bằng những niềm đam mê bất tận của mình. Đau đáu làm nên một điều gì đó trong đời bằng nghệ thuật đích thực. Thứ nghệ thuật mà đến bây giờ Cẩm vẫn đang đi tìm kiếm và cảm giác, chưa thể chiếm hữu được nó một cách trọn vẹn. Nhưng trên con đường sáng tạo đó, Cẩm, đã khám phá ra chính mình. Và đó cũng là cách, Cẩm còn lại với cuộc đời… Không phải phù hoa, không phải danh vọng, hay những thứ phù phiếm khác.
Bao nhiêu năm nay, Cẩm vẫn ăn lương biên chế nhà nước, mà hầu như chả mấy khi đi lĩnh lương, ở Hội Nhạc sĩ Việt