Cột khói về trời

Nhớ hồi nhỏ, tôi hỏi: “Bộ nhà mình nghèo hả má?”. Má cười sặc sụa, trả lời: “Chưa! Nhà mình chưa có cái sổ hộ nghèo!”. Lớn xíu tôi mới biết là nhà tôi cũng không có luôn sổ hộ khẩu. Cái gọi là “nhà” đó chỉ là cái chòi nhỏ má tự dựng lên, nhờ năn nỉ ỉ ôi với chủ bãi rác suốt cả tháng trời ròng rã.

Nhà tôi nằm trên một cái cù lao lớn, rất lớn. Lớn tới nỗi nhiều người còn không biết đó là cù lao, tưởng đất liền. Mỗi năm một lần, được bỏ hết xô bồ xô bộn ở thành phố, tôi nôn nao trở về nhà để ăn Tết với má. Về nhà, là nhất định phải đi phà qua sông. Mà làm như trùng hợp, lần nào tôi đứng trên boong-ke, ngó qua bờ quê hương bên kia cũng thấy một cột khói đen kịt chọc thẳng đứng lên lòng trời. Thấy cái cột chống trời đó nghĩa là sắp tới nhà rồi đó!

Một vài người trên phà thắc mắc: “Cột khói gì ta? Đốt đồng hả?”. Tôi cười thầm, chắc họ là người xứ khác đi ngang. Khói đốt đồng nào mà đen kịt như trời mưa vậy được? Trên cù lao thì không bao giờ có đồi núi, nhưng mà quê tôi có. Nhà tôi ở ngay bên chân núi, ngọn núi chót vót, chơi vơi, không bao giờ có du khách lui tới. Nhà tôi tí tẹo, nép mình hiền khô ngay dốc triền nham nhở. Núi phủ bóng bao trùm hết khu nhà lá chung quanh. Núi đó là núi rác.

Nhớ hồi nhỏ, tôi hỏi: “Bộ nhà mình nghèo hả má?”. Má cười sặc sụa, trả lời: “Chưa! Nhà mình chưa có cái sổ hộ nghèo!”. Lớn xíu tôi mới biết là nhà tôi cũng không có luôn sổ hộ khẩu. Cái gọi là “nhà” đó chỉ là cái chòi nhỏ má tự dựng lên, nhờ năn nỉ ỉ ôi với chủ bãi rác suốt cả tháng trời ròng rã. Nhà nhỏ nhưng ấm cúng, mái lợp lá dừa nước, vách bên này ván, bên kia gạch, còn cái cửa thì là một miếng bạt nilon sọc xanh, trắng, đỏ.

Cái bạt đó rất đẹp, sáng nào tôi ngủ nướng cũng thấy nắng chiếu xuyên vô làm đồ đạc trong nhà nhuộm đủ các màu. Khoảng màu đỏ rất thấy ghét, nó hay rọi trúng ngay mắt làm tôi tỉnh giấc. Thường thì tôi sẽ trườn lên một tấc, cho rớt vô khoảng xanh, nó dịu hơn. Vậy là tôi có thể tiếp tục say giấc nồng.

Nhưng chỉ có mình tôi là được ngủ thôi, vì từ nửa khuya là má đã phải thức dậy đi làm việc. Công việc của má có đồng phục rất ngầu! Nón lá, khẩu trang, áo sơ mi dài tay bằng vải nỉ dày cộm, bao tay len và ủng cao su. Má cầm theo một cây cào, đầu gắn đèn pin, lưng đeo cần xé. Rồi đó, cứ vậy má leo dốc ào ào, lầm lũi từ từ tới sáng là lên tới đỉnh núi. Má là nhà leo núi giỏi nhứt trên đời!

z6792647441559_15d908e7856a51866676dc7deb8a42ab.jpg -0
Minh họa: Đỗ Dũng

Hồi đó tôi khờ hết biết, luôn tin vô câu chuyện của má. Đi học bị bạn chọc không có cha, khóc lóc về hỏi má lý do, má tỉnh queo: “Lụm con ở bãi rác!”. Ờ he, gần sát bên mà, hợp lý quá! Sau đó, tôi kể với tụi bạn, tụi nó cười rần lên, câu đó là mấy vị phụ huynh nói xạo con cho vui thôi. Đứa thì lụm ở chợ, đứa thì bụi chuối, có đứa còn được đẻ ra từ nách nữa. Tôi giận má lắm, giãy nảy cả thời gian dài. Tôi không biết khi trả lời tôi kiểu cà rỡn đó má đang nghĩ gì? Thấy má tần ngần ngó lên đỉnh núi rác, nơi mặt trời ngày nào cũng mọc, rọi lên nóc nhà mình. Núi rác đó coi như là vốn quý nhứt cuộc đời của má ngoài tôi rồi, còn gì nữa.

Sống ở núi rác, người ta nhất định phải làm quen với ba việc. Thứ nhứt, mùi thúi. Thứ hai, nước đen. Và thứ ba, nó rất vô hình, khó diễn tả lắm. Phải dạn dày kinh nghiệm như hai má con tôi mới vượt qua được.

Cái thứ mùi hương đó, phải nói, tôi cũng đã đi rất nhiều nơi, không đâu có thứ mùi nhức đầu kinh khủng như núi rác. Người lạ lỡ có ghé vô thì thế nào cũng bị xú uế đấm vô mũi một cú đau điếng nhớ đời. Thứ mùi thúi mà không bút mực nào tả được, không trí tưởng tượng nào khắc họa ra nổi.

Rác hữu cơ như cơm thiu, rau củ dập, cá chết, chó chết, heo chết, mèo chết, sẽ hòa vào rác vô cơ như vỏ sò, vỏ ốc, cao su cháy, tất cả trộn chung một đống, xào lên thành một dãy núi cao mười mấy mét, dài ngoằn. Trời nắng thì rác phân hủy, mùi hương bốc lên ngùn ngụt, tỏa ra bát ngát mười phương tám hướng. Trời mưa thì còn đỡ xíu, nhưng mưa tạnh thì nước ủ chung vô rác sẽ thăng hoa lên bảy, tám lớp hương khác nhau.

Rồi dòng nước đen cứ vậy mà chảy ra, men theo đất cát xối xả. Thứ nước đó mang theo hết tinh túy của triệu thứ bẩn thỉu, ngập ngụa sình đất khắp núi. Có khi bão, nó còn tràn vô nhà tôi. Nhớ năm nó thành lũ, má vừa lấy bao cát chặn cửa vừa hét lớn: “Tát nước!”. Cặp chân như hai que củi của tôi sau mùa đó mọc lên biết bao nhiêu là nấm mốc. Đời hai má con thuở ấy cũng mốc meo theo.

Sống trong không gian đó, chúng tôi phải tự tập cho mình khả năng miễn dịch. Đau mắt đỏ, viêm hô hấp, rối loạn tiêu hóa, rồi cả dịch tả, chưa bệnh nào mà tôi chưa từng trải qua. Dân cào rác non nghề đi vô là phải đổ dầu xanh lên mũi, rồi thiếu điều tắm dầu xanh thay nước, để hòng dùng cái mùi the the kia át đi. Nhưng làm sao được, cũng vậy thôi. Phải như mẹ con tôi, tự phong bế khứu giác cho tới khi nó thành phản xạ vô điều kiện, tới lúc đó mới không còn cảm thấy thúi nữa.

Hồi nhỏ, núi rác là sân chơi của tôi. Gió đưa mùi thúi qua hướng Nam, tôi chạy qua hướng Bắc mà nhảy dây. Gió đẩy qua hướng Tây, tôi lại lòn qua triền Đông mà đá banh. Dần dà sau này, tôi chẳng thèm né hướng gió nữa. Thậm chí, tôi còn có riêng một bộ sưu tập đồ chơi nhặt nhạnh từ núi rác. Tôi là con trai mà chơi tuốt luốt từ búp bê gãy giò, gấu bông sứt tai, xe hơi rớt bánh. Đống đồ chơi của tôi chất cao trong góc nhà, đảm bảo trong lớp không đứa nào nhiều bằng.

Còn nạn ruồi. Hơn hai phần ba dân số ruồi của cả cù lao đều tập trung về núi rác. Ruồi ở chỗ tôi không còn kêu là cá thể, mà phải gọi là quần thể. Chúng đi thành đàn như vịt chạy đồng, to lớn dị thường, vo ve đinh tai nhức óc. Tới mùa nóng, tôi chỉ cần quơ tay một cái là có thể chụp cả nắm ruồi. Tụi nó đẻ nhiều và nhanh, dân số tăng cao chóng mặt. Khi đó, giơ một cục đá lên là thấy giòi bò lúc nhúc. Khi ăn cơm, má phải giăng mùng. Từng đàn ruồi ầm ĩ oanh tạc chung quanh, thiếu điều muốn xé toạc mùng mà chui vô ăn ké.

Ở núi rác không có điện và cũng không có nước. Má phải sạc bình ắc quy ở tiệm tạp hóa ngoài chợ để mở đèn, còn nước là cũng mua từng can. Sinh hoạt rất khó khăn nếu chưa quen, nhưng nhà vệ sinh của chúng tôi thì rộng mênh mông, có thể nhìn trời xanh mây trắng và nghe được gió thổi vi vu khắp chốn. Đêm ở đây lắng đọng. Không gian đen đặc mịt mùng, nhúng ngập vào mùi xú uế, chỉ thấy anh ánh mớ chai nhựa và bịch nilon trên núi. Giữa vùng đen tịch mịch hãi hùng đó, bóng đèn cà na nhỏ xíu trong nhà mà vẫn rọi sáng từng đêm lên trang tập của tôi, dù leo lét. Thớ giấy nào cũng ướp thắm đượm mùi rác đang phân hủy.

Còn chuyện cuối cùng mà tôi nói trừu tượng, đó chính là “mặc cảm”. Thường thì người sống ở núi rác rất ghét phóng viên, báo đài. Có cái gì thơm tho, đẹp đẽ đâu mà quay, mà viết? Nhất là đàn bà, họ thường che mặt kín mít suốt ngày, không bao giờ tháo ra. Họ còn sợ mình đã quen với cái thúi, không cảm nhận được, biết đâu trong tóc mình sau ba lần gội vẫn còn một chút xíu nào đó mùi xú uế? Bước ra chợ người khác vẫn ngửi ra, hỏi trổng lên: “Ủa? cái gì thúi dữ vậy ta?”.

Ai hỏi tên tuổi, quê quán, họ cũng lờ đi chẳng thèm trả lời. Chắc là họ còn hy vọng một ngày nào đó thoát được khỏi núi rác, được tự hào nói ra cái tên cha sanh mẹ đẻ, gốc ở Cà Mau hay Bạc Liêu, hãnh diện nói với đời rằng tôi làm nghề đạp xe lôi hoặc bán ve chai, chưa từng dính vô cái nghiệp tay trái cào tay phải phân loại?

Ai sao tôi không biết, má tôi thì không vậy. Nhớ có lần phóng viên vô quay, má đã cười toe, dõng dạc nói đùng đùng vô mi-cờ-rô: “Tui tên Thắm, ba mư chín, quê Chắc Cà Đao, khổ quá nên đi cào rác được mười tám năm rồi! Bây giờ con tui đã vô năm nhứt Trường Sư phạm! Nó là thầy giáo, nó giỏi lắm đó mấy cô mấy cậu ơi!”. Con giỏi chỗ nào đâu má? Con giỏi mà còn để má đi cào rác tới bây giờ sao má?

Chuyện in vô trong đầu tôi tới lớn là vòng lặp làm việc một ngày của má. Má làm ba trăm sáu mươi lăm ngày một năm, không tính mấy bận một trong hai chúng tôi bệnh liệt giường. Một giờ ba mươi phút sáng là rác về. Khi đó, hàng mấy chục người “ăn rác” phải đứng tụ lại trước núi, không được manh động. Giờ đó là đợt hàng đầu tiên trong ngày, là nước một, là ẩn chứa bao nhiêu huyền cơ trong đó.

Chủ bãi sẽ xuất hiện với tiếng nạt nộ, vàng vòng đỏ chóe, xe đắt tiền, đèn pin sáng rực. Sau đó, ông thu lệ phí từng nhà leo núi, và đúng hai giờ thì khai mạc trận đua vượt chướng ngại vật, mà đối thủ không ai khác chính là lối xóm của mình. Người ta giành nhau leo lên đầu tiên, ai lên trước, cào trước thì có cơ hội lụm được của quý cao hơn.

Má luôn là người nhanh nhứt. Cái đèn pin trên đầu má sẽ dễ dàng lia trúng những gờ rác chắc chắn. Đôi ủng cao su dưới chân má sẽ vững chãi trụ lên những mỏm rác nhấp nhô. Bàn tay trái sẽ quét lia lịa qua từng mớ bịch, hộp, thùng, bị. Những ví, bóp, balo, túi xách và áo quần luôn được săn đón nhất. Người ăn rác vẫn nuôi hy vọng lận trái một cái ví rớt ra tờ năm trăm ngàn, hoặc dưới đáy một cái vali vẫn còn sót lại một khoen vàng sáng loáng. Hễ ai la “Á!” lên là hết thảy sẽ đổ dồn ánh mắt tới đó. Chừng vài trăm lần thất vọng thì sẽ có một lần thấy người đó nhảy tưng tưng, dù chỉ là một tờ hai chục ngàn nhàu nát nhăn nheo.

Có lần má tôi cào trúng một túi đựng đầm cưới. Những cái đầm lộng lẫy, bung xòe trắng xóa ra nền chai nhựa, lon bia, bịch nilon. Người nào đó nói ới qua, hay bà lấy chồng nữa đi cho đỡ khổ? Xong người ta cười ha ha lên, trong khi má ngó xuống thấy một tấm hình ép gỗ tổ bố, có in hình cô dâu chú rể chu mỏ hun nhau trong mớ rác. Má cuộn tấm áo đắt tiền, quăng cái sột vào cần xé sau lưng.

Lần khác, một bọc nilon xổ ra cả nắm kim tiêm, trong xilanh còn dính miếng gì đo đỏ. Tay má lỡ quệt trúng một cái, mũi kim xuyên qua bao tay. Mặt má xanh rờn, tức tốc bỏ ngang công việc, tụt thẳng xuống núi rồi chạy như bay về nhà. Lần đó má khóc rức, vô tới bịnh viện, cầm tờ xét nghiệm trên tay rồi mà vẫn hỏi đi hỏi lại bác sĩ: “Vậy là tui không có sida phải không bác? Tui không có bịnh đúng không bác?”. Má sống khổ vậy mà vẫn còn muốn sống tiếp. Chắc má sợ má mà đi thì tôi phải nối tiếp khúc đời cào rác, phải đâm đầu vào những thứ phế thải tới già, giống như má.

Chuyện mò trúng miểng chai, đinh sét, lưỡi dao là như cơm bữa. Có lần má mò trúng thứ đáng sợ hơn nhiều. Lần đầu tiên trong đời tôi nghe người đàn bà cứng cỏi như má phải hét rú lên vang vọng giữa những núi rác, rồi khóc tới thảm thiết. Má quỵ xuống giữa đỉnh núi, moi cái bọc, nâng lên tay mà nước mắt tuôn như mưa. Bà con xúm lại coi, trên tay má là một đứa nhỏ. Đứa nhỏ khô đét, quay quắt, còn nguyên cuốn rún. Tôi đã khóc lên theo má vì sợ. Hình ảnh đó khủng khiếp thật sự, giữa muôn vàn rác rến, chất thải bỏ đi của loài người. Sau đó, má đóng cái hộp cây nhỏ, để đứa nhỏ vô rồi mang ra bụi cây ven sông mà chôn cất. Dù má có lên chùa cầu siêu cho nó, nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn có cảm giác nó còn ở bụi cây, ngó mắt qua coi má leo lên đỉnh núi rác mỗi ngày.

Tôi được nghỉ lễ, về nhà ở với má mấy ngày Tết. Không năm nào nhà tôi có cây mai. Má nói: “Xung quanh toàn rác rến, biết để nó ở đâu?”. Thật ra, những ngày Tết đối với chúng tôi là ngày làm việc. Sau rượu thịt, chè chén, lễ tiệc của ba ngày Tết, khối lượng rác tăng vọt không ngờ. Đây mới là dịp chúng tôi kiếm “tiền thưởng Tết”. Tôi đã lớn nên cũng đi theo làm phụ má. Chúng tôi cào quần quật qua mùng bốn, năm, sáu,… tới rã rời tứ chi mà má vẫn còn muốn cào tiếp.

Tôi nói má nghỉ ngơi đi, tiền kiếm đủ rồi, ăn Tết thôi má. Rác đâu có bao giờ hết mà má cào hoài? Má cười: “Ráng đi, hết nghèo mới có Tết!”. Vậy đó, nên cuối năm, thứ thôi thúc tôi về quê không phải là bao lì xì, bánh tét, thịt kho, dưa giá. Thứ giày xéo ruột gan và thôi thúc đẩy tôi trôi ngược về cù lao là má và những buổi đi cào rác. Dù là có tôi thì sản lượng cũng không tăng thêm bao nhiêu. Nhưng khi đó, xen giữa những nhát cào sẽ là nụ cười của má. Tôi nghĩ đó chính là cái Tết trong lòng má.

Mỗi ngày, khi mặt trời lên cao, xe rác hoạt động, người ăn rác lũ lượt về tổ. Những thứ tái chế được rồi sẽ bị lọc lại, cân ký tính tiền. Tiền không ít, cũng không nhiều, nhưng đủ. Đồng tiền dơ bẩn mà sạch sẽ đó nuôi tôi suốt từ nhỏ cho tới lớn. Núi rác dưới chân má vơi dần rồi lại cao vút. Má đạp dưới chân lon bia, sắt vụn, ve chai, lông vịt, nhớp nháp, ti tiện và hèn mọn. Má đạp luôn đời mình dưới đôi ủng cao su cũ xì. Má đạp hết. Cái ngọn núi ngút trời trước cửa nhà tôi đó, má dẫm nát nó biết bao nhiêu lần mà kể, từ ngày ròng qua năm rã. Đâu có đỉnh núi nào cao hơn má tôi được đâu?

Rồi về sau, dịp cận Tết, tôi về quê không còn nhìn thấy cột khói đen chống trời sừng sững bên cù lao nữa. Người ta không còn đốt rác. Không, rác thì vẫn còn hoài, vô tận luôn đó, nhưng người ta đã có cách khác xử trí nó rồi! Người ta rải hóa chất, phủ bạt cho rác tự phân hủy. Rồi những thứ tái chế được sẽ tự lọc mình sót lại, rơi ra, không cần phải cào. Bây giờ núi rác phân thành lô, phải có tiền đấu thầu thì mới được đi vô, xúc cái đống hỗn tạp đó về mà sinh kế. Người ăn rác đã biến sang hình thái khác. Má ngác ngơ, không hiểu sao thời bây giờ tới rác mà cũng phải bỏ tiền mua. Khi ấy, má yếu rồi. Đời má có hai thứ à, tôi và núi rác. Rác đã bỏ má mà đi, bây giờ, má chỉ còn có mình tôi.

Tôi đi làm, dành dụm cất cái nhà nhỏ cho má ở. Tôi chọn mảnh đất xa tít đầu bên kia cù lao, khuất mắt núi rác sau những tàng cây xanh um tươi tốt. Tôi muốn dắt má chạy trốn khoảng đời nồng nặc đó. Nửa đêm nằm cạnh má, một giờ ba mươi sáng, má giật mình ú ớ: “Con… ngủ đi… má đi cào nha con…”.

Một cột khói đen xa xăm ở nơi nào đó đang bay tít về trời.

Truyện ngắn của Vương Đình Khang

Các tin khác

Kẻ điên xem hát

Kẻ điên xem hát

Vào thời nhà Thanh, có một kẻ điên sống ở vùng Giang Nam rất mê xem hát kịch. Mỗi khi đi xem hát, hắn thường vừa xem vừa điên điên khùng khùng kéo ống quần của người khác lên nhìn, miệng còn ngâm nga điệu hát: “Chân vàng nhỏ, chân bạc xinh, kéo quần lên cho mình nhìn ngắm…”.

Đi qua dòng sông

Đi qua dòng sông

Giọng chị mơ hồ và hoảng hốt. Tôi ngước nhìn chị. Dưới ánh trăng, chị đẹp một cách lộng lẫy, như một bức ảnh nàng tiên cá tôi từng được thấy trên tờ họa báo. Làn tóc đen xõa xuống, đôi mắt to tròn lấp lánh. "Chị khổ lắm Hoàng ơi". Tôi khẽ đặt bàn tay lên vai chị: "Ta về thôi chị". Đêm ấy, bu tôi không về vì dì tôi trở bệnh.

Mây trời Huổi Chỏn

Phía ngoài, một khẩu lệnh đanh gọn. Ngay lập tức mũi đột phá gồm ba chiến sỹ cơ động lao thẳng về phía các đối tượng đang chặn đầu tiên, đẩy bật chúng về phía sau. Cực nhanh sau đó, từng tốp hai đồng chí lao vào đánh gục, tước vũ khí, khóa tay các đối tượng. Mấy chục đối tượng hàng sau, hung hãn cầm gậy gộc, vũ khí lao lên nhưng…  hự…ụp…  chúng hoảng loạn quay đầu bỏ chạy.

Vụ cháy hy hữu

Vụ cháy hy hữu

Có một người tên là Hồ Lai, lúc nào cũng nhàn rỗi chẳng có việc gì làm. Anh ta lười biếng và không làm bất cứ công việc nào cho tử tế. Bị gia đình thúc giục, anh ta vay mượn tiền và gom góp đủ để mua một chiếc xe máy cũ rồi bắt đầu buôn bán rau củ.

Không dễ dàng gì

Không dễ dàng gì

A Quý là người bán rau ngoài chợ. Hôm ấy vừa chập tối, anh thu dọn gian hàng đi về thì thấy mấy người hàng xóm đang đứng vây quanh một con chó bàn tán xôn xao.

Chuyện xảy ra trên tàu

Chuyện xảy ra trên tàu

Đoàn tàu khách địa phương dừng lại ở ga để đón tiễn hành khách. Trong số hành khách vừa lên tàu có một cô gái trẻ mặc bộ quần áo rất đẹp và hợp thời trang đang len qua các toa để tìm chỗ ngồi.

Những nẻo đường hoa

Những nẻo đường hoa

Bố làm quen với mẹ từ đó, mẹ cũng mở lòng nghe bố kể chuyện chiến tranh, bố kể cho mẹ nghe cả câu chuyện tình buồn của bố và cô Thảo. Cô ấy hứa sẽ đợi bố đi chiến trận trở về, chiếc khăn tay cô ấy tặng bố còn thêu hai chữ "đợi chờ" bằng sợi chỉ màu đỏ chói. Nhưng, năm 1973, cô ấy gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong, chiến tranh không cướp được bố, nhưng đã cướp mất cô Thảo trong một lần tải đạn ra chiến trường.

Mùa hoa trắng không trở lại

Mùa hoa trắng không trở lại

Em đến từ khi nào. Cánh tay em quấn chặt, vai tôi nóng rực, hơi thở dồn dập, đôi má ấm mềm như tan chảy, thấm dần vào từng mạch máu. Bờ môi căng mọng khẽ chạm, run run hòa vào nhịp tim thổn thức. Nụ hôn nồng nàn đưa tôi lạc giữa cánh đồng tam giác mạch phảng phất hương hoa trong gió núi.

Sương bên đá núi

Sương bên đá núi

Pháo nghe tiếng "rầm", vội cầm đèn pin chạy ra. Dưới ánh sáng vàng vọt, lão trưởng bản lồm cồm bò dậy, bộ áo chàm rách toạc một mảng ở vai, máu rỉ ra thẫm cả vạt vải. Mắt lão cứ trợn ngược nhìn vào vách đá tối om, mồm lầm bầm: "Nó phạt tao... Con ma dốc nó phạt tao thật rồi, Pháo ơi...".

Tiếng huýt sáo kỳ diệu

Tiếng huýt sáo kỳ diệu

Trương Tiểu Dũng bị gãy chân nên phải nhập viện. Trong thời gian này, do bị bó bột nên anh không thể đi lại, may sao trong phòng bệnh có cụ Trần cũng bị thương ở chân nên có thể cùng anh trò chuyện cho đỡ buồn.

Kẻ cắp siêu cấp

Kẻ cắp siêu cấp

Hắc Tam là kẻ cắp có uy tín nhất trong giới trộm cắp, kinh nghiệm “làm việc” nhiều năm đã giúp hắn phát triển được thị lực nhạy bén và khả năng phán đoán phi thường, một khi đã bị hắn nhắm tới thì không một “con mồi” nào có thể trốn thoát.

Làm bảo vệ cũng cần có kỹ năng

Làm bảo vệ cũng cần có kỹ năng

Đinh Tiểu Cương nhận bộ đồng phục bảo vệ, mặc vào và bắt đầu làm bảo vệ. Công việc của Đinh Tiểu Cương không mấy bận rộn, chỉ có việc đi dạo quanh khu phố. Cảm thấy bồn chồn, anh quyết định kiểm tra camera an ninh để xem ai đã lấy trộm cục pin của mình. Tuy nhiên, khi vào phòng giám sát, anh phát hiện chỉ có năm màn hình hiển thị hình ảnh; những màn hình còn lại đều bị hỏng.

Cây đào phai bên bờ rào đá

Cây đào phai bên bờ rào đá

Xóm nhỏ im ắng bỗng rộ lên khi hay tin A Châu bất ngờ trở về. Ai cũng nghĩ rằng A Châu đã không còn trên đời này nữa. Những vụ lật tàu, đắm tàu trên biển, người không rõ tung tích. Nghe đâu hồi đó A Châu cũng trên chuyến tàu ấy...

Trứng gà hàng xóm

Trứng gà hàng xóm

Ở một thị trấn yên tĩnh, có ông Vương và ông Lý là hàng xóm sát vách nhau. Hai nhà chỉ có một bức tường đất thấp ngăn cách với nhau, ngày qua ngày lại, quan hệ khá thân thiết.

Thảm kịch hôn nhân

Thảm kịch hôn nhân

Rồi cô gái trẻ cười hồn nhiên, còn Della lúc đó chỉ nghĩ đó là những chuyện phù phiếm. Vì Bishop quá đẹp còn Elise quá quyến rũ, chỉ những kẻ hẹp hòi mới thêu dệt nên chuyện ngoại tình. Bà đã từng tin như thế. Nhưng giờ đây bà hối hận vì đã tiễn Jakie đi.

Để người lớn làm việc

Để người lớn làm việc

Mùa gặt lúa mì trong mắt người dân thôn Hàm Cóc chẳng khác nào một cực hình. Không khí hầm hập, bụi bặm bám đầy lỗ chân lông, người ngợm lúc nào cũng dấp dính, ngứa ngáy. Thế nhưng, giữa cái làng ấy lại có một “dị nhân” luôn mong ngóng mùa gặt như trẻ con mong mẹ đi chợ về, đó chính là ông Ngô Lùn.

Căn nhà ở phía núi mù sương

Căn nhà ở phía núi mù sương

Căn nhà ấy luôn sáng đèn, ấm lửa những lúc chiều đông ảm đạm của miền rừng heo hút. Đó là nhà của vợ chồng thầy giáo Nam và cô Hồng, nhưng chỉ có cô dạy ở trường này, còn thầy Nam phải dạy xa hơn một chút, tận một bản sâu hơn của huyện miền núi. Cả hai thầy cô đều học cùng trường sư phạm và họ đã yêu nhau từ đó.

Ngọn lửa trong đêm

Ngọn lửa trong đêm

Ở nơi tưởng như vắng bóng người ấy lại có một ngọn lửa nhỏ vẫn sáng mỗi đêm. Ngọn lửa ấy tỏa ra từ căn nhà cấp bốn cũ kỹ, mái ngói thẫm màu rêu, nơi ông Sáu, một cựu chiến binh tình nguyện chọn làm chỗ nương thân khi bước vào tuổi xế chiều.

Nhớ chú Dìn

Nhớ chú Dìn

Đau đớn vì mất vợ con, nhà cửa chú Dìn phát điên, phát dại khá lâu mới trấn tĩnh được. Chẳng đủ sức phát nương, làm rẫy, chú Dìn đành phải lê cái thân tàn của mình đi khắp nơi ngửa tay ăn xin. Hàng năm vào dịp tết chú thường đi “Khai wài xuân” những mong đem may mắn cho mọi người.

Ghét của nào... trời trao của ấy

Ghét của nào... trời trao của ấy

Có đôi vợ chồng nọ lấy nhau đã lâu, cuộc sống vốn dĩ khá êm đềm nhưng cũng không hiếm những lúc cơm không lành, canh chẳng ngọt. Cứ mỗi bận nóng mắt vì anh chồng đi nhậu nhẹt say xỉn, cô vợ lại được đà xỉa xói: