Theo truyền khẩu, do giúp sức lực tiền của cho Nguyễn Văn Thiệu tranh cử tổng thống nên có 2 người muốn gặp Thiệu không cần phải báo trước để xếp lịch. Họ cứ chạy xe tới cổng dinh, thông báo và thế là gặp. Họ là Trần Thành và Lý Long Thân… Như một quy luật bất biến, đại gia ăn chơi không ghê gớm như các thiếu gia. Bởi lẽ, đại gia xài tiền của mình, ky ca ky cóp nên biết tiếc! Còn thiếu gia, xài tiền của bố nó…nên tiếc làm gì!
Công tử thời... công tử!
Thời phong kiến, có 5 thứ bậc tước vị: Công-Hầu-Bá-Tử-Nam… ngay cả tước Công vẫn chia làm 2 loại: Tỉ như Yên Công thì to hơn Yên Định Công. Và công tử là con của vị quan có tước công ấy. Nhưng sau này, Công-Tử để chỉ chung con nhà quyền quý, có thế lực. Kỷ cương phép nước bị con nhà quyền quý xâm phạm làm rối đảo, có lẽ nhiều nhất và trở thành quốc nạn chính là đời nhà Trần. Sau 2 cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược thành công, quý tộc nhà Trần hy sinh cũng nhiều và vì là tông tộc nên tước phong cứ thế mà nhận. Ai ai cũng thái ấp điền trang, ăn chơi xa xỉ và nhũng nhiễu dân lành.
Khi Gia Long thống nhất, việc tranh chấp giữa dòng Hoàng tử Cảnh (mất sớm) và Thái tử Đảm, đã phát sinh một nguy cơ có thể khiến Nguyễn Phúc tộc chia rẽ. Các dòng con của vương gia đều có khả năng tranh chấp ngôi báu gây nguy hại cho vương triều Nguyễn. Minh Mạng (1820-1840) tức Thái tử Đảm đã đặt ra Đế Hệ Thi: "Miên-Hồng-Ưng-Bửu-Vĩnh…Bảo-Quốc-Định-Long-Trường…". Với 20 thế hệ, những mong con cháu sẽ cứ thế mà vững vàng ngồi trên ngai cửu ngũ. Tuy nhiên đến năm 1945, cách mạng thành công, vị vua cuối cùng là Bảo Đại - tức Vĩnh Thụy phải thoái vị… cả thảy mới được 5 đời!
Công tử, thiếu gia…lúc ấy nhiều nhất và sống tập trung tất nhiên ở kinh thành Huế. Thử nghĩ, dân đen sống ở Huế khổ tâm cỡ nào khi hàng trăm dòng quý tộc, hàng chục nghìn công tử thiếu gia, thậm chí con quan lại, cháu họ thái giám trong cung… tha hồ "đứng trên luật pháp". Dĩ nhiên đứng cao hơn luật pháp bao nhiêu thì cũng còn phải tính vị trí của "bố-mẹ, ông-bà" và "còn đương chức hay đã cáo lão quy điền!
Vụ án do bọn "con nhà nòi" gây ra có lẽ lớn nhất chính là vụ Ba-Tàu-Chìm. Cụm từ này, sau rút ngắn cũng chính là chữ Ba Tàu chỉ người Việt gốc Hoa sau này. Hoàn toàn không có một chút gì khinh rẻ, miệt thị hay phân biệt như mọi người lầm tưởng.
Năm ấy, Tự Đức vừa lên nối ngôi Thiệu Trị chưa bao lâu, một nhóm người Hoa ở Hội An, ta thường gọi chung là người Minh Hương, gom góp nhau hàng trăm vị "lão bản" về thăm bà con tông tộc ở cố quốc. Họ sử dụng ba chiếc tàu đi biển loại lớn và gom góp quà cáp sản vật chất đầy để "vinh quy bái tổ".
Vừa ra khỏi cửa biển, họ bị vây lại bởi hàng chục thuyền chiến của quan binh. Chỉ huy là một tôn thất nhà Nguyễn còn rất trẻ, sử không chép tên chỉ biết chức Chưởng Cơ và họ Tôn Thất. Theo thủ tục, ba chiếc tàu dừng lại cho quan binh khám xét như lệ thường. Bất ngờ, theo hiệu lệnh từ trước, đám quan binh nhất tề ra tay. Toàn bộ ba chiếc tàu đều bị giết sạch và của cải bị cướp, chuyển sang những chiến thuyền. Sau đó ba chiếc tàu bị đánh đắm, mọi dấu vết bị xóa sạch.
Sự việc không ai hay biết kể cả gia đình, vợ con của các nạn nhân trên Ba-Tàu-Chìm. Thế rồi một ngày đẹp trời, có một tên đội mang đến cửa hàng nữ trang lớn tại Hội An bán chiếc nhẫn ngọc với giá vài chục lượng bạc. Chuyện không có gì đáng nói nếu như chiếc nhẫn ngọc bích này không phải là thứ bảo vật thời Tống, có một không hai và lại là vật bất ly thân của người chồng bà chủ tiệm ấy. Sự việc bắt đầu ầm ĩ, các gia đình của hàng trăm nạn nhân sinh nghi ngờ và kiện quan. Cộng vào đó những chiếc tàu buôn từ Trung Hoa ghé cảng liên tục mang đến những thông tin đáng ngờ: những vị "lão bản" ấy không thấy về quê!
Tên đội hoảng sợ chạy về cấp báo. Vị công tử đang nắm binh quyền bèn ngầm cho lệnh đàn áp. Cả trăm tên lính được thả ra từ doanh trại giả say mượn rượu đánh đập gia đình các nạn nhân và còn ra tay phá hoại các cửa hàng ở Hội An của người Minh Hương. Vị quan trấn nhậm không biết cách nào giải quyết, vì viên trưởng cơ ấy là một công tử "con dòng cháu giống". Sự việc càng lúc càng nghiêm trọng và một bản mật tấu của viên quan sở tại được gửi về triều đình. Tất nhiên, phủ binh phủ huyện binh huyện, những lời lẽ trong tấu sớ cũng hết sức nương nhẹ cho vị công tử.
Theo truyền thuyết, hôm ấy vua Tự Đức tự tay phê duyệt tấu sớ hàng trăm quyển, đã mệt mỏi ngủ thiếp đi trong thư phòng. Ông vua trẻ trong lúc mơ màng chợt thấy ngoài rèm có hàng trăm người kêu la than khóc. Giật mình tỉnh dậy, Tự Đức ngạc nhiên khi thấy một con thằn lằn nhả một giọt mực vào ngay chỗ ông vừa châu phê.
Cầm lên xem lại, Tự Đức quyết định làm rõ hơn bản mật tấu có từ Hội An. Hôm sau khi thiết triều, ông cử ngay một khâm sai đại thần vào Hội An với nhiệm vụ làm rõ nội dung bản tấu sớ. Mọi việc nhanh chóng sáng tỏ khi viên khâm sai cho phép gia đình các nạn nhân đến gặp để dâng đơn tố cáo. Và từ lời khai của bọn binh lính, lộ ra một vụ án cướp của giết người với quy mô hết sức nghiêm trọng.
Toàn bộ cấp chỉ huy đều bị xử trảm. Binh lính bị phát vãng vào Châu Đốc thượng đạo lúc ấy là nơi sơn cùng thủy tận. Còn vị công tử bị tước hết gia sản, chức tước, quyền hành, bị buộc đổi họ và sau đó mang ra chém ngang lưng.
Câu chuyện nghe có vẻ huyền hoặc này, có lẽ do người đời sau thêu dệt thêm chớ thực ra khi vừa lên ngôi, Tự Đức đã muốn trừng trị bọn công tử con nhà quyền quý, mượn thế gia tộc làm càn nhưng chưa có dịp. Bản tấu sớ của viên quan trấn nhậm, vốn thông minh đã đoán ra ý chủ nhân. Nếu Tự Đức không muốn vậy thì có các vàng viên quan nọ cũng chẳng dám xen vào chuyện của vị công tử con nhà nòi đang nắm binh quyền trong tay.
Sau nhiều năm, câu chuyện chỉ còn đọng lại trong phương ngữ của dân Đàng Trong hai chữ: Ba-Tàu.
Công tử thời Pháp thuộc...
Năm 1859, thực dân Pháp liên kết với quân Tây Ban Nha nổ súng đánh Gia Định Thành. Thành xây theo lối Veuband khá kiên cố và hiện đại so với thời bấy giờ, nhưng đã bị thu nhỏ rất nhiều theo ý chỉ của Minh Mạng muốn ngừa họa cát cứ sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi.
Chính vì vậy, Gia Định Thành nhanh chóng thất thủ. Ba tỉnh miền Đông rơi vào tay Pháp không lâu sau đó. Trên mảnh đất mới chiếm, thực dân Pháp cố gắng xây dựng một bộ máy cai trị mới vẫn dựa theo mô típ sử dụng người địa phương làm quan nhỏ cấp trung gian.
Người Hội An xưa.
Tuy nhiên, những thổ hào tránh hợp tác vì sợ Cựu trào (triều đình Huế) trả thù. Một số rất ít ra hợp tác và vốn liếng ngoại ngữ của họ chỉ tóm gọn có 2 từ: Non và Ùy! Chuyện hài hước xảy ra và tạo nên những gia sản huyền thoại cũng chính vì 2 chữ Non và Ùy (Non và Ùy - tiếng Pháp, nghĩa là Không và Có) này. Khi tiến hành đo đạc và phân định thuế má, những công việc khởi đầu hết sức quan trọng của tiến trình khai thác thuộc địa, Pháp dựa vào lực lượng thông ngôn ba xí ba tú này.
Huyện Sĩ, tức Lê Phát Đạt, trở thành người giàu nhất Nam Kỳ cũng theo kiểu này. Nông dân bỏ chạy về ba tỉnh còn lại khi Pháp tới và tìm cách nghe ngóng tình hình chiến sự. Khi quan Pháp hỏi từng thửa ruộng có chủ hay không, hễ đất tốt thì Huyện Sĩ "Non" một tiếng, đất bùn lầy khó khai thác thì "Ùy". Có vậy thôi, gia sản của Huyện Sĩ đã tích góp được hơn 50 ngàn mẫu ruộng tốt! Đại gia thời ban đầu của Nam Kỳ thuộc Pháp đa số là như vậy. Nhưng thiếu gia công tử lúc đó cũng chẳng có gì đáng nói. Người miền Nam ở nhà thấp, ăn mặc sang nhất là lụa là chớ ít dùng gấm vóc. Di chuyển xài ngựa hoặc võng, kiệu. Nhà giàu có ba gian, lợp ngói cột bằng cây mít đã là danh vọng một vùng. Lấy đâu ra công tử tiêu tiền như rác?
Nhưng khi chế độ thuộc địa đi vào ổn định và nền nếp sau năm 1870, chế độ văn quan cai trị thay cho võ quan mà thống đốc đầu tiên là thủy sư đô đốc Duperé, xứ Nam Kỳ thuộc địa bắt đầu hình thành một giai cấp quý tộc mới và cũng manh nha xuất hiện các loại công tử thiếu gia.
Hai nhân vật thời ấy có thể xem là "con dòng cháu giống" là Trần Bá Thọ, con ruột của đại Việt gian Trần Bá Lộc và Huỳnh Công Miêng (1858-1899) tức cậu Hai Miêng, con ruột lãnh binh Tấn, người bán anh hùng Trương Định vào tay Pháp.
Do quá nhiều "công lao" nhờ đàn áp các cuộc nổi dậy, Trần Bá Lộc cùng con là Trần Bá Thọ, cũng là đốc phủ sứ ở Cái Bè, khét tiếng là "cọp Cái Bè". Năm 1885, em ruột Trần Bá Lộc tên Trần Bá Hựu, đang làm quan cai trị tại Long Thành và bạn của Hựu cũng là đốc phủ Trần Tử Ca ở Hốc Môn. Cả hai đều bị nghĩa quân sát hại, khiến Trần Bá Lộc càng thêm hiểm ác. Trần Bá Hựu khi còn là một công tử, cũng gây ra nhiều thị phi do ngông cuồng. Thời nay thỉnh thoảng các thiếu gia cũng chẳng khác gì!
Khi chỉ là em tổng đốc Lộc, chưa hề có chức vụ gì thì khi đi ra đường, Hựu cũng buộc dân chúng quanh vùng phải đến "triều kiến". Và, để "nhấn mạnh tầm quan trọng" của mình, Hựu ra lệnh cấm toàn bộ dân chúng không được nhìn vào mặt mình. Cũng chính vì ngông cuồng nên khi là tri huyện ở Long Thành, nghĩa quân xộc vào tận phủ đường, Hựu còn thét bắt quỳ! Đến khi bị giết, Hựu vẫn không tin đám dân đen dám hạ thủ…
Đến đời con đốc phủ Lộc là Trần Bá Thọ thì dữ dằn hơn. Mới 20 tuổi theo cha lập công lớn với nhà nước Đại Pháp và được đưa đi chính quốc học. Khi trở về, vừa giàu có vừa thế lực kèm theo bằng cấp ở Pháp về, Thọ bắt đầu tác oai tác quái. Cả vùng Cái Bè, Cù Lao 5 thôn và cả Sa Đéc, nhắc đến tên Thọ, thảy đều lắc đầu lè lưỡi. Truyền thuyết về Thọ có một câu chuyện, là vụ giành gái với quan tham biện Vĩnh Long.
Trong một cuộc đua trâu với gã Tây chủ cù lao 5 thôn, Thọ chợt nhìn thấy một cô gái con thầy thuốc bắc, và mê! Nhưng ở vùng đất của Ta Lơ Feo thì làm sao có chuyện An Nam Mít mà chọn thứ chỉ để giành cúng quan Tây. Thọ đưa lời thách thức.
Bạn của Ta Lơ Feo là quan tham biện bèn tham-chiến. Thọ hơi chùng vì gặp phải quan Tây. Về thỏ thẻ với đốc phủ Lộc, Thọ nhận được sự đồng ý của cha. Chỉ vài tháng sau, toàn bộ gần 5.000 mẫu vườn cây ăn trái của Ta Lơ Feo đã được mua lại với giá hời. Đương nhiên, như thời thuộc địa - những thứ đi kèm với vùng đất, đại thể là cô gái đẹp cũng được xem là vật đi kèm! Và chủ nhân mới của cù lao 5 thôn, lại chính là gia đình đốc phủ Lộc!!!
Phải chăng cây độc không trái, hay ít trái, nên Trần Bá Lộc chỉ có một người con duy nhứt là Trần Bá Thọ. Theo cuốn "Sự có mặt của người Pháp ở Nam Kỳ và Cam Bốt" thì từ năm 1886 trở đi Nam Kỳ đã bắt đầu gửi người du học qua Pháp. Bốn năm sau số du học sinh lên đến 90 người.
Thọ là một trong những người du học đầu tiên đó, cùng với Huỳnh Công Miêng con lãnh binh Huỳnh Công Tấn. Thọ và người chú ruột là Trần Bá Hựu theo học trường Laseyne ở Pháp. Những người đi Pháp học trong buổi đầu không phải để lấy bằng cấp, mà chỉ học chữ Pháp đủ sức làm thông ngôn, giao dịch với Pháp mà thôi.
Sau khi ở Pháp về, Trần Bá Thọ vừa làm hội đồng quản hạt Nam Kỳ, vừa lo quản lý ruộng đất khổng lồ của cha để lại. Cũng giống như cha, khi ra làm việc với Pháp, Thọ vẫn nóng tánh, hay có những ý kiến trái ngược với quyền lợi của Pháp. Trần Bá Thọ có một người con gái gả cho con trai út của cụ Trương Vĩnh Ký là Trương Vĩnh Tống.
Về sau, khi đã là một viên quan tay sai của nhà nước thuộc địa, không còn là một công tử ngông cuồng, chẳng hiểu sao Thọ lại tự sát bằng cây súng sáu của mình. Cho đến nay cái chết của Trần Bá Thọ vẫn còn là một bí ẩn mà ngay cả dòng họ, người thân quen cũng không sao lý giải…
Còn chuyện cậu Hai Miêng, xin gửi tới quý vị ở kỳ tiếp theo…