Câu chuyện không lời kết

Tôi hay đến thăm ông hơn để động viên, an ủi ông. Dù rơi vào hoàn cảnh "cái chết đã được báo trước", nhưng ông vẫn tỏ ra là người có bản lĩnh, trước mặt mọi người không bi quan, ảo não, vẫn giữ được tính hài hước, hóm hỉnh vốn có. Ông nói với tôi là ông bị "quả báo" vì bị chính chất độc da cam mà quân đội Mỹ rải xuống Việt Nam giết hại.

Trong nhiệm kỳ ngoại giao ở Mỹ, tôi có người bạn Mỹ rất đặc biệt. Ông còn nói tiếng Việt rất giỏi không chỉ vì vợ là người Việt mà còn vì ông là sĩ quan tình báo CIA, huấn luyện các toán biệt kích để tung ra phá hoại miền Bắc.

Một lần, trong lúc nhậu lai rai, tôi hỏi:

 - Ấn tượng đẹp nhất của ông về đất nước tôi?

- Là vợ tôi, không chỉ là ấn tượng mà đó là món quà đẹp nhất của Việt Nam tặng tôi.

- Ấn tượng xấu nhất?

- Là lần nào khi đến thăm nhà nàng, tôi cũng phải chạy qua một quán thịt chó, treo cái đầu bị thui, nhe răng, lủng lẳng, kinh đến bây giờ.

- Thế... ấn tượng của ông với "Việt cộng" hồi chiến tranh?

Ông xoa xoa mái đầu tóc bạc, nhỏ nhẹ:

- Lần thứ hai sang Việt Nam, tôi còn một việc đặc biệt khác là khai thác tù binh. Lúc đầu, tôi cũng hết sức ngạc nhiên vì "sự lì lợm, cứng đầu cứng cổ" của họ.

- Anh có kỷ niệm nào sâu sắc cụ thể không?

dffc40e8b8b904e75da85.jpg -0
Minh họa: Bùi Quang Đức

- Có chứ! Nhiều lắm!

Rồi ông thủ thỉ kể với tôi mà như tâm sự với chính mình.

Đó là giữa năm 1965, Tổng thống Mỹ Johnson cho tiến hành chiến lược quân sự "Tìm và diệt" ở miền Nam Việt Nam do Westmoreland vạch ra. Quân đội Hoa Kỳ sẽ là lực lượng chủ lực phối hợp quân đội Sài Gòn để "bẻ gãy xương sống Việt cộng" ở địa bàn chiến lược Tây Nguyên....

Vấn đề cần phải nắm rõ là lực lượng và chủ trương đối phương ở Tây Nguyên lúc đó như thế nào? Đúng lúc đó, tôi nhận được tin bắt được một tù binh nghi là lính trinh sát của sư đoàn chủ lực mới đến Tây Nguyên. Quá tốt, tôi và đồng nghiệp lên ngay Pleiku để khai thác. Trước khi tôi hỏi cung, đồng nghiệp của tôi đã làm những gì có thể nhưng chưa lấy được thông tin gì có giá trị cả. Người ta đang đặt kỳ vọng vào sự khôn khéo của tôi.

Đó là một người lính còn rất trẻ, gầy và đen, bị bắt do ở lại chặn cho hai đồng đội chạy thoát.

Tôi hỏi tại sao lại đến miền Nam. Anh ta nói đơn giản là họ đã làm theo lệnh của cấp trên. Không cần hỏi quê, tôi chộp luôn giọng nói của anh ta, bảo quê xứ Nghệ phải không? Anh ta hơi giật mình liếc nhìn tôi như lời thú nhận. Rồi tôi hỏi dồn dập những câu quen thuộc:

- Anh có vợ chưa?

- Chưa.

- Anh bao nhiêu tuổi?

- Hai mươi!

- Đi lính lâu chưa?

-  Ba năm.

- Anh tập ở đâu?

- ...

- Anh đã quen với Tây Nguyên chưa?

- ...

- Anh ở đơn vị nào?

- ...

Chỉ cần người lính trinh sát đó trả lời một trong những câu tôi gài vào là tình báo Mỹ đã có cơ sở để xác định được điều rất hệ trọng gì đó. Nhưng sau một buổi khai thác, tuyệt nhiên, tôi không hề thu được một thông tin gì đáng giá cả. Phải dùng biện pháp mạnh. Trước hết tôi thử tra tấn tâm lý, man rợ một tí nhưng đã từng đem lại hiệu quả. Tôi bảo với một cộng sự là người lính quân báo của Việt Nam Cộng hòa:

- Lấy cật nứa để bắt tên tù binh này tuốt cho nát tươm mười đầu ngón tay...

Nghe vậy, bất giác tôi khẽ rùng mình, ớn lạnh, làm cho ông ngừng lại, khẽ đưa bàn tay to và mềm úp lên tay tôi, tiếng trầm xuống, xin lỗi anh, chiến tranh mà... Tôi bảo không sao, anh kể tiếp đi. Vâng! Ông gật gù rồi tiếp.

- Tôi vừa nói vừa kín đáo liếc xem sự phản ứng của người tù binh. Thấy anh ta cũng khẽ rùng mình như anh vừa rồi, tôi đoán biết là người này sẽ không chịu nổi những cú đòn tra tấn rợn người này. Nhưng tôi đã nhầm... Người lính đó đã thắng dù sau đòn tra tấn anh ta đã ngất đi với mười ngón tay tươm như hai miếng giẻ thẫm máu ...

Sau trận Pleime mà quân đội Mỹ thua thảm hại, cơ quan ông được lệnh chuẩn bị tung thêm một toán biệt kích ra hậu phương miền Bắc. Lần này ông rất cẩn trọng, tuyển chọn, huấn luyện rất kỹ, toàn những người theo ông từ lâu. Khác với những lần trước, ông cũng thay đổi cách làm và trực tiếp cùng nhóm năm người di chuyển qua Thái Lan rồi đi trực thăng đến gần biên giới Việt - Lào ở khu rừng núi vô cùng hoang vắng.

Ông sẽ trực tiếp cùng toán biệt kích vượt qua biên giới, ở trong một hang đá sát đường biên để thăm dò, và chỉ huy anh em thâm nhập vào địa bàn Việt Nam, có động lại rút qua Lào. Nhiệm vụ của ông là sau khi nắm chắc tình hình, chắp nối được cơ sở cũ nằm vùng, sẽ gọi máy bay chở hai người còn lại và khí tài, lương thực thả dù xuống nhập bọn, sau đó ông sẽ trở lại Sài Gòn. 

Họ ở trong một hang đá, xung quanh có mấy bản cũ bỏ hoang do chiến tranh hoặc thói quen sống du cư. Một lần có một con chó hoang đói xác xơ, mon men đến tìm thức ăn. Mấy người lính biệt kích của ông mừng lắm, định bẫy nó giết thịt. Vốn yêu chó từ nhỏ, nên ông cấm mọi người làm hại nó, ông lại còn cho nó ăn. Con chó dần quý mến ông, ông đi đâu nó cũng theo. Nhưng rồi mấy anh em trong toán biệt kích đã làm một việc mà ông không bao giờ tha thứ cho họ.

Hôm đó, ông bảo ba người ở lại hang cùng con chó, chờ lệnh. Ông cùng hai cộng sự leo lên một đỉnh núi cao để quan sát và chỉnh lại tọa độ trên bản đồ cho khớp với thực địa. Lúc trở về, qua ống nhòm từ mỏm cao cách nơi ở chừng ba bốn trăm mét, ông thấy con chó đang ăn gì đó ở cửa hang, còn ba người lính biệt kích của ông đang ngồi xem, có lúc còn vỗ tay có vẻ thích thú lắm. Nghĩ là họ đã theo ông, yêu quý chó nên ông thấy vui vui. Khi về đến nơi, ông thấy chó vẫn đang choãi chân, liếm lấy liếm để thứ gì đó giữa tàu lá chuối. Thấy lạ, ông hỏi:

- Các anh cho chó ăn gì mà mãi vẫn chưa hết?

Mấy người không trả lời, len lén nhìn ông rồi lủi vào trong hang đá. Ông đến tận nơi, kinh ngạc thấy bên dưới tàu lá chuối là một ống luồng đặt trong hõm đất nhầy nhụa những máu là máu. Con chó lúc ấy đã quỵ xuống, thè lưỡi đỏ lòm, hai mắt trắng dã nhìn ông như không hiểu chuyện gì đang xảy ra với nó... Ông xây xẩm cả mặt mày. Thì ra người ta đã bẫy nó, dùng cật nứa găm vào giữa tàu lá chuối rồi bôi ít mỡ vào đấy. Chó đói liếm mỡ, bị tứa máu lưỡi, nó lại liếm cho sạch máu, càng bị cật nứa cứa lưỡi, máu càng chảy nhiều hơn cho đến khi gục chết.  

- Tôi rợn gáy, nhìn họ như nhìn lũ man rợ, hỏi: "Ai bày cho các anh trò thế này?". Lúc đầu, họ xem chuyện đó là rất bình thường, sau thấy tôi giận dữ quát: "Ai bày cho các người cái trò này?". Họ hoảng quá, đùn đẩy nhau trả lời.  Một người lí nhí: "Vì vì... - hắn chỉ vào tôi - Vì chúng tôi học được ở người Mỹ các ngài...". "Cái gì? Người Mỹ nào?". "Thì... thì chính ngài chẳng lấy cật nứa để...  để... tra tấn...". Ôi Chúa ơi... Sau này tôi mới biết ở nước các anh có câu: "Liếm như liếm máu chó" vì con chó thấy máu chảy là nó sẽ liếm mãi cho kỳ hết mới thôi... Tôi bủn rủn hết cả người.

Chuyện đó cứ ám tôi mãi, không chỉ hành động man dại của mấy lính biệt kích giết chó tội nghiệp, mà là cái ác đó họ lại bảo học từ tôi... Mà cũng không sai... Quả báo mà...

*

Một lần khác, ông lại thì thầm với tôi về một bí mật của chính ông, là ông đang bị chết dần vì bệnh tiểu đường và huyết áp cao. Ông bảo lý do là vì chất độc da cam ông bị nhiễm từ thời tham gia chiến tranh ở Việt Nam. Thấy tôi có vẻ hoài nghi, ông bảo, đó là bi kịch của đời ông. Từ ngày ra khỏi cuộc chiến, ông đã làm những gì có thể để đấu tranh cho công bằng, bắt chính phủ Mỹ phải công nhận mình là thủ phạm và phải đền bù cho nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam. Cái đó khó lắm anh ơi... Vì Mỹ không bao giờ dám công nhận cả, phải đấu tranh. Tôi sẽ dành phần đời còn lại để đấu tranh, đời tôi chưa được thì con tôi phải tiếp tục, vì đó là công lý, là nhân đạo...

Tôi rất cảm kích vì biết ông đã dốc tâm huyết và cũng đã làm rất nhiều việc như vận động trong giới quan chức Mỹ, trong Hạ viện, Thượng viện và nhiều tổ chức xã hội ở Mỹ phải có trách nhiệm, phải đền bù cho nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam do họ gây ra ...

Tôi nhận được email ông viết là "có chuyện rồi", gần đây ông thấy hơi mệt, đi kiểm tra bác sĩ thì người ta xét nghiệm cho hay là đang nghi ông bị ung thư phổi. Mới chỉ nghi thôi, hy vọng họ nhầm. Gia tộc ông có gen sống rất lâu, trên dưới 100 tuổi, chưa ai bị thứ bệnh này cả. Nếu thế thì do chất độc da cam rồi vì hồi chiến tranh Việt Nam ông nhiều lần đi vào vùng rải thuốc diệt cỏ... Lại quả báo rồi... Nhưng ông dặn tôi đừng vội nói với ai, lỡ vợ ông biết lại mất vui, vì ông đã có kế hoạch đưa bà ấy đi du lịch ở Nam Mỹ...

Sau chuyến đi du lịch của vợ chồng ông, chúng tôi vẫn gặp nhau, ông vẫn vui vẻ, còn pha trò nhiều hơn trước mặt vợ. Tôi biết là ông đang gồng lên vì vợ con. Nhưng chẳng được bao lâu, ông phải trị xạ và được chăm sóc đặc biệt tại nhà.

Tôi hay đến thăm ông hơn để động viên, an ủi ông. Dù rơi vào hoàn cảnh "cái chết đã được báo trước", nhưng ông vẫn tỏ ra là người có bản lĩnh, trước mặt mọi người không bi quan, ảo não, vẫn giữ được tính hài hước, hóm hỉnh vốn có. Ông nói với tôi là ông bị "quả báo" vì bị chính chất độc da cam mà quân đội Mỹ rải xuống Việt Nam giết hại. Những ngày này tôi mới có dịp gặp con trai cả của ông. Đó là chàng trai trung niên, đẹp trai, giống ông nhiều hơn giống mẹ, đang dạy học ở tiểu bang khác. Một lần, sau khi con trai đỡ ông từ xe lăn ra ghế ngồi, ông nói với tôi:

- Thằng cả mang hai dòng máu Mỹ - Việt, nó sẽ làm tiếp những gì tôi chưa xong, nó phải góp phần đấu tranh để nước Mỹ phải có trách nhiệm, phải đòi lại công lý cho nạn nhân chất độc da cam mà nước Mỹ đã gây ra trong chiến tranh ở Việt Nam. Cái chất độc dioxin đó vô cùng nguy hại... nó có thể di truyền đến các thế hệ sau...

Ông bỗng im bặt, mặt bợt đi, hai tay run run bấu vào thành ghế. Tưởng ông bị đau, tôi định gọi con trai ông vào, nhưng ông đã trấn tĩnh lại, nhìn tôi, lắc đầu:

- Tôi ... Không sao đâu... Nhưng mà anh ơi... Liệu... điều tôi vừa nói có ứng vào nhà tôi không?

Tôi hiểu ý ông, cố động viên:

- Anh hay lo xa... À mà mọi hôm anh bảo có điều gì cần tôi giúp ấy nhỉ? Tôi hỏi, cốt để anh tránh cái cảm giác nặng nề.

- Ừ nhỉ? Ông đã lấy lại trạng thái cân bằng, chỉ tập giấy để sẵn góc bàn - Anh cầm về xem, viết tiếp được thì hay quá. Tôi ấp ủ viết một truyện ngắn bằng tiếng Việt mà mấy chục năm chưa được.

Tôi lướt qua đầu đề tập giấy đã nhàu chứng tỏ tác giả của nó đã dày vò, trăn trở nhiều lắm. Đó là một truyện ngắn được sửa chữa nhiều lần, tiêu đề là "Người đóng quan tài".

- Anh cầm về xem...

*

Tin ông mất, dù biết trước vẫn để cho tôi những hẫng hụt. Vĩnh biệt một người bạn đã từng là kẻ thù làm cho tâm trạng tôi cứ ngổn ngang trăm mối, nhưng bao trùm lên là buồn. Về nhà tôi lấy tập truyện ngắn ông viết dở ra đọc. Câu chuyện viết về một làng quê ở Hà Tĩnh trong những năm chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ. Gia đình nọ làm nghề đóng quan tài, khi người trong làng có người chết thì gia đình ông lại có thu nhập. Trong chiến tranh, gia đình ông phát đạt vì rất nhiều người chết bom, chết đạn, đến nỗi có lúc gia đình ông không thể đóng quan tài kịp. Rồi gỗ cũng hiếm dần, cho đến một ngày nọ, vợ con ông cũng bị chết bom, ông phải lấy cả tủ, cả cánh cửa nhà để đóng. Rồi buồn thay, một ngày nọ, ông cũng bị chết bom thì không ai đóng quan tài cho ông cả...

Khiếp quá, tôi buồn đến rợn người khi hồi ức về cuộc chiến tranh mình từng tham gia lại ập đến. Chợt có dòng viết bằng bút bi cuối bản thảo:

- Anh giúp tôi tìm cái kết câu chuyện này với, tôi viết ba mươi năm mà chưa xong vì không tìm được cái kết cho hợp lý...

Lời nhắn gửi của ông làm tôi trăn trở. Làm sao kết thúc được. Cả ông, cả tôi, cả con cháu chúng ta sẽ chẳng ai viết được lời kết câu chuyện đó cả. Cuộc chiến đã trôi qua lâu, và còn lâu nữa, nhưng chưa bao giờ kết thúc.

Hà Nội - 2023

Truyện ký của Thái Chí Thanh

Các tin khác

Kẻ điên xem hát

Kẻ điên xem hát

Vào thời nhà Thanh, có một kẻ điên sống ở vùng Giang Nam rất mê xem hát kịch. Mỗi khi đi xem hát, hắn thường vừa xem vừa điên điên khùng khùng kéo ống quần của người khác lên nhìn, miệng còn ngâm nga điệu hát: “Chân vàng nhỏ, chân bạc xinh, kéo quần lên cho mình nhìn ngắm…”.

Đi qua dòng sông

Đi qua dòng sông

Giọng chị mơ hồ và hoảng hốt. Tôi ngước nhìn chị. Dưới ánh trăng, chị đẹp một cách lộng lẫy, như một bức ảnh nàng tiên cá tôi từng được thấy trên tờ họa báo. Làn tóc đen xõa xuống, đôi mắt to tròn lấp lánh. "Chị khổ lắm Hoàng ơi". Tôi khẽ đặt bàn tay lên vai chị: "Ta về thôi chị". Đêm ấy, bu tôi không về vì dì tôi trở bệnh.

Mây trời Huổi Chỏn

Phía ngoài, một khẩu lệnh đanh gọn. Ngay lập tức mũi đột phá gồm ba chiến sỹ cơ động lao thẳng về phía các đối tượng đang chặn đầu tiên, đẩy bật chúng về phía sau. Cực nhanh sau đó, từng tốp hai đồng chí lao vào đánh gục, tước vũ khí, khóa tay các đối tượng. Mấy chục đối tượng hàng sau, hung hãn cầm gậy gộc, vũ khí lao lên nhưng…  hự…ụp…  chúng hoảng loạn quay đầu bỏ chạy.

Vụ cháy hy hữu

Vụ cháy hy hữu

Có một người tên là Hồ Lai, lúc nào cũng nhàn rỗi chẳng có việc gì làm. Anh ta lười biếng và không làm bất cứ công việc nào cho tử tế. Bị gia đình thúc giục, anh ta vay mượn tiền và gom góp đủ để mua một chiếc xe máy cũ rồi bắt đầu buôn bán rau củ.

Không dễ dàng gì

Không dễ dàng gì

A Quý là người bán rau ngoài chợ. Hôm ấy vừa chập tối, anh thu dọn gian hàng đi về thì thấy mấy người hàng xóm đang đứng vây quanh một con chó bàn tán xôn xao.

Chuyện xảy ra trên tàu

Chuyện xảy ra trên tàu

Đoàn tàu khách địa phương dừng lại ở ga để đón tiễn hành khách. Trong số hành khách vừa lên tàu có một cô gái trẻ mặc bộ quần áo rất đẹp và hợp thời trang đang len qua các toa để tìm chỗ ngồi.

Những nẻo đường hoa

Những nẻo đường hoa

Bố làm quen với mẹ từ đó, mẹ cũng mở lòng nghe bố kể chuyện chiến tranh, bố kể cho mẹ nghe cả câu chuyện tình buồn của bố và cô Thảo. Cô ấy hứa sẽ đợi bố đi chiến trận trở về, chiếc khăn tay cô ấy tặng bố còn thêu hai chữ "đợi chờ" bằng sợi chỉ màu đỏ chói. Nhưng, năm 1973, cô ấy gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong, chiến tranh không cướp được bố, nhưng đã cướp mất cô Thảo trong một lần tải đạn ra chiến trường.

Mùa hoa trắng không trở lại

Mùa hoa trắng không trở lại

Em đến từ khi nào. Cánh tay em quấn chặt, vai tôi nóng rực, hơi thở dồn dập, đôi má ấm mềm như tan chảy, thấm dần vào từng mạch máu. Bờ môi căng mọng khẽ chạm, run run hòa vào nhịp tim thổn thức. Nụ hôn nồng nàn đưa tôi lạc giữa cánh đồng tam giác mạch phảng phất hương hoa trong gió núi.

Sương bên đá núi

Sương bên đá núi

Pháo nghe tiếng "rầm", vội cầm đèn pin chạy ra. Dưới ánh sáng vàng vọt, lão trưởng bản lồm cồm bò dậy, bộ áo chàm rách toạc một mảng ở vai, máu rỉ ra thẫm cả vạt vải. Mắt lão cứ trợn ngược nhìn vào vách đá tối om, mồm lầm bầm: "Nó phạt tao... Con ma dốc nó phạt tao thật rồi, Pháo ơi...".

Tiếng huýt sáo kỳ diệu

Tiếng huýt sáo kỳ diệu

Trương Tiểu Dũng bị gãy chân nên phải nhập viện. Trong thời gian này, do bị bó bột nên anh không thể đi lại, may sao trong phòng bệnh có cụ Trần cũng bị thương ở chân nên có thể cùng anh trò chuyện cho đỡ buồn.

Kẻ cắp siêu cấp

Kẻ cắp siêu cấp

Hắc Tam là kẻ cắp có uy tín nhất trong giới trộm cắp, kinh nghiệm “làm việc” nhiều năm đã giúp hắn phát triển được thị lực nhạy bén và khả năng phán đoán phi thường, một khi đã bị hắn nhắm tới thì không một “con mồi” nào có thể trốn thoát.

Làm bảo vệ cũng cần có kỹ năng

Làm bảo vệ cũng cần có kỹ năng

Đinh Tiểu Cương nhận bộ đồng phục bảo vệ, mặc vào và bắt đầu làm bảo vệ. Công việc của Đinh Tiểu Cương không mấy bận rộn, chỉ có việc đi dạo quanh khu phố. Cảm thấy bồn chồn, anh quyết định kiểm tra camera an ninh để xem ai đã lấy trộm cục pin của mình. Tuy nhiên, khi vào phòng giám sát, anh phát hiện chỉ có năm màn hình hiển thị hình ảnh; những màn hình còn lại đều bị hỏng.

Cây đào phai bên bờ rào đá

Cây đào phai bên bờ rào đá

Xóm nhỏ im ắng bỗng rộ lên khi hay tin A Châu bất ngờ trở về. Ai cũng nghĩ rằng A Châu đã không còn trên đời này nữa. Những vụ lật tàu, đắm tàu trên biển, người không rõ tung tích. Nghe đâu hồi đó A Châu cũng trên chuyến tàu ấy...

Trứng gà hàng xóm

Trứng gà hàng xóm

Ở một thị trấn yên tĩnh, có ông Vương và ông Lý là hàng xóm sát vách nhau. Hai nhà chỉ có một bức tường đất thấp ngăn cách với nhau, ngày qua ngày lại, quan hệ khá thân thiết.

Thảm kịch hôn nhân

Thảm kịch hôn nhân

Rồi cô gái trẻ cười hồn nhiên, còn Della lúc đó chỉ nghĩ đó là những chuyện phù phiếm. Vì Bishop quá đẹp còn Elise quá quyến rũ, chỉ những kẻ hẹp hòi mới thêu dệt nên chuyện ngoại tình. Bà đã từng tin như thế. Nhưng giờ đây bà hối hận vì đã tiễn Jakie đi.

Để người lớn làm việc

Để người lớn làm việc

Mùa gặt lúa mì trong mắt người dân thôn Hàm Cóc chẳng khác nào một cực hình. Không khí hầm hập, bụi bặm bám đầy lỗ chân lông, người ngợm lúc nào cũng dấp dính, ngứa ngáy. Thế nhưng, giữa cái làng ấy lại có một “dị nhân” luôn mong ngóng mùa gặt như trẻ con mong mẹ đi chợ về, đó chính là ông Ngô Lùn.

Căn nhà ở phía núi mù sương

Căn nhà ở phía núi mù sương

Căn nhà ấy luôn sáng đèn, ấm lửa những lúc chiều đông ảm đạm của miền rừng heo hút. Đó là nhà của vợ chồng thầy giáo Nam và cô Hồng, nhưng chỉ có cô dạy ở trường này, còn thầy Nam phải dạy xa hơn một chút, tận một bản sâu hơn của huyện miền núi. Cả hai thầy cô đều học cùng trường sư phạm và họ đã yêu nhau từ đó.

Ngọn lửa trong đêm

Ngọn lửa trong đêm

Ở nơi tưởng như vắng bóng người ấy lại có một ngọn lửa nhỏ vẫn sáng mỗi đêm. Ngọn lửa ấy tỏa ra từ căn nhà cấp bốn cũ kỹ, mái ngói thẫm màu rêu, nơi ông Sáu, một cựu chiến binh tình nguyện chọn làm chỗ nương thân khi bước vào tuổi xế chiều.

Nhớ chú Dìn

Nhớ chú Dìn

Đau đớn vì mất vợ con, nhà cửa chú Dìn phát điên, phát dại khá lâu mới trấn tĩnh được. Chẳng đủ sức phát nương, làm rẫy, chú Dìn đành phải lê cái thân tàn của mình đi khắp nơi ngửa tay ăn xin. Hàng năm vào dịp tết chú thường đi “Khai wài xuân” những mong đem may mắn cho mọi người.

Ghét của nào... trời trao của ấy

Ghét của nào... trời trao của ấy

Có đôi vợ chồng nọ lấy nhau đã lâu, cuộc sống vốn dĩ khá êm đềm nhưng cũng không hiếm những lúc cơm không lành, canh chẳng ngọt. Cứ mỗi bận nóng mắt vì anh chồng đi nhậu nhẹt say xỉn, cô vợ lại được đà xỉa xói: