Những nấm mộ của một thời
Được đến các khu nghĩa địa ở vùng thấp hay vùng cao mới nhận ra sự khác biệt của những người đã trở về với đất. Vào năm 2000 có lần đi cùng với ông Đại tá hải quân về hưu đến thăm mộ phần bà Nguyễn Thị Tẩu, tác giả của “Nắm đất miền Nam” gửi ra cho Bác Hồ vào năm 1955 ở một nghĩa trang nhỏ tại huyện Tân Uyên tỉnh Bình Dương.
Khu vực yên ắng này thể hiện rõ nơi còn lại của những con người của nền văn minh lúa nước. Hồi ấy những nấm mồ của người thân được chôn cất ở cuối vườn, nằm cạnh lũy tre lá rụng vàng trải lên một cách yên bình, có mộ nằm ở góc ruộng hoặc trên gò cao trong công đất của mình. Sự thương tưởng giữa người sống và người chết ngày xưa gắn bó với nhau đến mức không muốn xa rời. Còn ở nơi chôn cất tập trung, những ngôi mộ dù là đất hay gạch đá đều bình thường giản dị, thi thoảng có một vài ngôi mộ giàu có được xây bằng đá ong đã ngả màu loang lổ theo gió bụi thời gian. Tâm thức con người ở thời kỳ văn minh lúa nước gắn với phong tục nếp nghĩ theo bóng dáng sông núi, ruộng đồng. Nơi đó sự sống con người gắn liền theo các chu kỳ canh tác nông nghiệp, nơi đó cuộc sống vô hình hay hữu hình của người nông dân đều được bắt đầu từ xóm làng, hoặc co cụm trong mảnh đất hương hỏa của cha ông để lại.
Ông Đại tá hải quân đã từng chinh chiến Bắc Nam, đã từng đi máy bay tàu thủy, được tham quan nhiều nước trên thế giới nhưng đến tuổi xế chiều vẫn tìm về quê cha đất tổ sống cuối đời để hương khói cha ông. Mãi cho đến bây giờ, người Việt ở nông thôn vẫn muốn thế, ngay cả những người đã định cư ở nước ngoài đến khi gần về với đất vẫn mơ ước được về cố hương gửi lại nắm xương tàn bên cạnh người thân. Người ta thường nói: “Cáo chết 3 năm quay đầu về núi”.
Về núi hay về nước cũng nói lên tâm thức hướng về cội nguồn. Nếu ở vùng nông thôn hàng hóa ở chợ quê thể hiện sự sung túc của vùng miền, còn ở nghĩa địa với hình ảnh những nấm mồ mang bóng dáng tình người nằm cạnh nhau không phân biệt sang hèn, vì khi trở về cát bụi giàu nghèo cũng chẳng ý nghĩa gì. Thời ấy người đến viếng mộ không những thắp hương cho người thân của mình mà còn thắp cho cả bà con hàng xóm. Tân Uyên là vùng đất được sông Đồng Nai ôm gọn vào lòng dài đến 90km, dải đất này không có núi nên các nấm mồ đều quay đầu về rừng nhìn về dòng sông quanh năm nước lũ nước ròng.
Năm rồi tôi lại có dịp đến thăm một nghĩa trang gần thị trấn Long Hải, Phước Tĩnh, ven biển Bà Rịa - Vũng Tàu. Cư dân ở vùng này chủ yếu sinh sống bằng nghề đánh bắt chế biến hải sản. Những ngôi mộ tại đây quay đầu vào núi Dinh nhìn ra biển cả nhưng gần như đã mất đi nền văn minh lúa nước. Tại miền duyên hải này theo người dân cho biết, đây là nơi có người định cư ở nước ngoài nhiều nhất của Bà Rịa - Vũng Tàu từ trước và sau năm 1975.
Sau ngày nhà nước đổi mới số lượng người sống xa Tổ quốc trở về thăm quê ngày càng nhiều, họ mang tiền bạc nâng cấp nhà cửa, mồ mả ông bà theo thiết kế bỏ túi từ nước ngoài về, nên những nấm mồ trở nên xa lạ dưới bóng dừa xanh cát trắng. Có khá nhiều ngôi mộ bề thế lộng lẫy, hàng rào bao bọc xa cách mộ phần xóm giềng. Mà những xác người nằm trong mộ ấy hoàn cảnh có gì khác đâu, ngày trước vẫn cùng nhau đi biển, vá lưới, từng ngồi nhậu cá đuối khô với rượu đế Hòa Long, đến khi trở về với đất nằm trong ngôi mồ bạc tỷ lẻ loi, không biết những vong hồn dưới nấm mộ họ buồn hay vui, họ có oán trách con cháu vì muốn tỏ ra hơn người đã nhẫn tâm đẩy họ xa cách bạn bè một thời no đói có nhau.
Tại một nghĩa trang ở Tây Nguyên, nơi được xem là vùng đất tiêu biểu cho nền văn minh cây trồng ở miền đất đỏ Bazan. Sau năm 1975 khá đông dân tứ xứ quy tụ về, hai anh em Kinh Thượng cùng nhau vỡ đất chung sống hòa bình đã từng chia sẻ vui buồn trong những năm tháng hàn vi. Từ lúc cây cà phê lên ngôi, cộng đồng người Tây Nguyên trở nên giàu có, các mộ phần cũng đã bắt đầu thay đổi. Một số ngôi mộ được xây đồ sộ như cung điện nhỏ, có mộ chạm trổ hình long phụng như muốn tìm kiếm một khát vọng cuối cùng của đời người. Trong số ấy có những người bình thường không phải là anh hùng dân tộc hay vĩ nhân, nhưng lúc sinh thời dặn dò con cháu với ước nguyện được chôn ở nghĩa trang cán bộ. Kể ra con người cũng lạ, thuở hàn vi, sống lặng lẽ đến khi giàu sang lại muốn kiếm thêm quyền lực, muốn chốt lại đời mình bằng sự tuyệt đỉnh. Chả lẽ khát vọng làm quan làm giàu lại mang theo xuống tận nấm mồ!
Và ở nền văn minh lúa rẫy
Người gốc Tây Nguyên là cư dân bản địa sống ở rừng núi đại ngàn. Trước đây khi chưa hội nhập với miền xuôi, đồng bào sắc tộc theo trường phái đa tín ngưỡng. Đối với họ trong toàn bộ hoạt động của con người đều có thần bảo vệ mạng sống, từ Thần Núi, Nước, Sông, Rừng… và cao nhất là Yàng. Bà con quan niệm rằng con người được Yàng sinh ra khi chết về lại với Yàng. Trong các lễ cúng Yàng bao giờ cũng có lễ tạ ơn.
Vào các lễ hội mùa xuân, lễ bỏ mả chiếm khá nhiều thời gian, vì ngay tại buổi lễ này giải phóng cho cả hai người, vong hồn người chết sẽ có đời sống khác, người sống nếu còn trẻ sẽ được tái giá, còn nếu đã già xem như không còn phải thương tưởng nữa, vì sau buổi lễ này xem như đã xong một phận người. Người miền xuôi không có tập tục bỏ mả, các ngôi mộ của người thân theo luật tục sẽ được chăm sóc suốt đời. Người Tây Nguyên tập trung chôn cất người chết tại một khu rừng, gọi là rừng thiêng và nơi chôn cất bao giờ cũng được chọn ở phía Tây buôn làng đầu quay về núi. Đối với cư dân bản địa, hướng đông là hướng tối kỵ, vì họ cho rằng người chết nằm ở hướng này hồn ma sẽ theo ánh sáng mặt trời tìm đường về nhà bắt hồn buôn làng. Tại khu rừng thiêng giống như một buôn làng thu nhỏ. Nơi đó có những hình người bằng gỗ, gọi là tượng nhà mồ, tượng động vật thân quen như trâu, khỉ chim muông và có cả chum, chóe, gùi, chà gạc.. để người chết có bạn tâm sự có dụng cụ để đi rừng kiếm ăn. Tất cả những của cải được chia, đều bị đập sứt ra ở một góc miệng mục đích để phân biệt của cải người sống và người chết. Năm ngoái tôi được đi cùng với một già làng Mạ ở thượng nguồn sông Đạ Đờn đến thăm khu nghĩa địa của bộ tộc mình.
Tại đây có khá nhiều ngôi mộ gần như hoang phế, gùi và chum chóe… bị lá rừng phủ kín không có bàn tay con người tảo mộ. Được hỏi về thân nhân các ngôi mộ này, ông KPrẻo cho biết đó là mả đã bỏ rồi để người chết tìm nơi mới không còn luyến tiếc nơi cũ nữa. Mới đây tôi đến khu nhà mồ Tây Nguyên ở làng Kép, xã Ia Mơ Nông, huyện Chư Pah (Gia Lai). Khu này được bao quanh là những bức tượng gỗ, gồm người và vật đậm nét nền văn minh lúa rẫy mang khát vọng như con người ở đời thường. Đó cũng là tập tục truyền thống mang niềm mơ ước chính đáng ở rừng núi đại ngàn.
Những năm trước, trong chuyến đi dài ngày ở khu “Mã Đà sơn cước anh hùng tận” một địa danh có nhiều huyền thoại sự sống và cái chết thuộc chiến khu Đ miền Đông Nam bộ. Đến lúc mệt và đói, chúng tôi ngồi lên một mô đất nhỏ, mò mẫm bắt từng con vắt đang hút máu người, bất chợt phát hiện hai cục đá ở đầu và cuối, biết đây là mộ phần của một người xấu số, chúng tôi đốt nhang và hái hoa rừng cắm dưới chân mộ mặc dù không biết họ là ai.
Trong chiến khu Đ hiện nay, chiến tranh đã trở thành ký ức, nhưng ở rừng hoang này vẫn còn những bộ xương người dưới các lớp lá hay những nấm mộ hoang tàn ghẻ lạnh nằm chơ vơ chưa một lần nhang khói. Không biết những vong hồn này họ có buồn tủi, khi nhìn thấy những ngôi mộ bạc tỉ mà người nằm trong ấy đã từng là bạn chiến đấu của mình. Tôi nhớ đến một ông hàng xóm của tôi hàm Đại tá về hưu vào thâp niên 80 của thế kỷ trước, lúc sinh thời ông ấy dặn con cháu, nếu sau này ông qua đời, hãy chôn ông cùng với họ hàng bà con hàng xóm trong nghĩa địa của dân. Theo ông phân tích về với dân sống cùng với nhân dân bao giờ cũng bền vững