Nếu Ninh Thuận được xếp là nơi khô hạn và nắng nóng nhất nước thì vườn quốc gia Núi Chúa là vùng hanh khô nhất ở tỉnh này. Dải đất quanh năm gần như chỉ có nắng gió, rất ít ngày mưa. Vì vậy khách lạ đến đây thường ví von rằng: Phan Rang có nghĩa là "gió như phang và nắng như rang". Vào nửa tháng 8, từ thị trấn Khánh Hải chúng tôi phóng xe máy về Núi Chúa trong cơn hạn Bà Chằn, nóng muốn rám da mặt.
Con đường của nắng
Rời đầm Nại, Tri Thủy, chúng tôi chạy dọc theo tỉnh lộ 702 từ Tri Hải đi Vĩnh Hy, Bình Tiên đến Cam Ranh. Con đường mới mở, tráng nhựa phẳng lì dọc theo bờ biển nên gió thốc vào mặt như muốn ghì tay lái. Dọc hai xã Tuy Hải và Nhơn Hải là cánh đồng muối mang tên Đầm Vua, nơi đây có 2 ụ muối, mỗi ụ cao đến 10m dài cả trăm mét trùm bạt kín nằm dưới cơn hạn. Lúc ấy là 11 giờ trưa, cánh đồng nằm dưới chân núi vắng bóng người, chỉ còn những cơn gió mặn chát cộng thêm cái nắng như rang muốn rợn người. Mặc dù chỉ cách bờ vài chục mét, gió từ biển Đông thổi vào rầm rập cũng không xua nổi cái nóng bất kham. Ven đường các khu dân cư từ Tuy Hải, Nhơn Hải, Vĩnh Hải cứ vài bóng cây lại có người bán vé số, họ kê chiếc bàn con đặt vài chục tờ, đội nón, ngồi nhìn ra đường một cách vô hồn như pho tượng. Khác những nơi tôi đã đến, người bán vé số thường mang chiếc túi trước ngực, gặp khách chìa xấp vé số thẳng vào mặt chào mời vội vã và nếu không bán được, họ lầm bầm chửi xéo bằng những câu độc địa. Trong vai người đi mua “niềm hy vọng” tại bóng cây xanh, tôi phát hiện họ là những con người hiền lành kiên nhẫn. Tôi hỏi một người phụ nữ ngồi dưới cây keo “Chị bán vài tấm vé số như thế này sao đủ ăn!”. “Giờ biết làm gì chú! Muối chưa bán được, hành tỏi nắng quá bị rụi rồi, kiếm được đồng nào mừng đồng đó chú ơi!”. Chị trả lời mà không nhìn mặt người hỏi.
Đoạn đường dọc theo tuyến Vĩnh Hải đang thi công, thực ra là đang thay thế những khúc cua tay áo hay đường vòng. Âm vang tiếng máy khoan đá, đập đá chấn động một không gian yên tĩnh, ở từ xa đã nhận ra đám bụi mù chập chờn ở lưng chừng hẻm núi. Chúng tôi dừng xe ngồi bệt trên đường hỏi chuyện, được các kỹ sư và công nhân mặt đang lấm lem đất cát cho biết “Con đường này ra đến quốc lộ I tận thành phố Cam Ranh dài đến 60km. Tất cả đã hoàn thành, chỉ riêng đoạn 5km này là phần cuối cùng, chắc cũng vài tháng nữa mới xong”. Đứng trên dốc đá dựng tại đây nhìn xuống biển cách 400m, tôi bất ngờ nhận ra sự sống của biển và rừng. Dưới chân dốc, 7 ngôi nhà xây quay mặt ra biển có xe máy và hàng dừa xanh, còn trên dốc vài ngôi nhà tuềnh toàng nằm trong vườn điều với đàn dê núi. Dọc đường dê chạy sòng sọc kêu be be, vài con nằm lăn ra vệ đường mở mắt trừng trừng nhưng khi có tiếng động của người hay xe chúng bật dậy chạy vô rừng rất lẹ. Núi ở Vĩnh Hải nhấp nhô cây rừng mang hình dáng bonsai xòe ra trên đồi đá, điều đáng chú ý là tại đây khí trời khô khốc gió thổi vù vù rát bỏng, nhưng khu rừng lùn này vẫn xanh tươi. Ở trên đỉnh đồi thấp, đồi cao hàng chục con dê cố trèo lên đỉnh nhìn về biển cả, đẹp như tranh vẽ. Hình ảnh của dê, núi, biển cho thấy dáng vẻ hoang sơ của một vùng đất hiền lành và thơ mộng của đất nước mình. Trong tâm thức tôi vẫn thích ngắm đàn dê núi quay đầu ra biển be be gọi đàn hơn là những tòa nhà chọc trời. Sinh thái phải mang dáng vẻ tự nhiên, chứ không phải dành cho con người có tiền có quyền đổ bộ đến bờ biển chặt đứt từng khúc, gọi là đầu tư rồi xây dựng đường bê tông với ánh đèn, bể bơi, nhà hàng… bảo rằng đây là sinh thái.
Tỉnh lộ 702 dài đến nỗi chạy dọc theo bao nhiêu vách núi ven biển hoặc ra tận bờ cát gió thổi như phang thấm vào da thịt. Trên con đường này, tầm mắt của người ung dung phóng tận đỉnh núi, quét ra biển xanh xa tít ngoài khơi. Hình ảnh và không gian ven đường không những hữu tình mà còn nhuộm đầy chất thơ. Được đi, ngắm, nhìn đất và người hay giang san gấm vóc mới thấy quê mình đẹp, nước mình được thiên nhiên ưu đãi. Cái chính là thế hệ bây giờ và con cháu mai sau có giữ được hồn di sản của ông cha để lại hay vì đại cuộc mang cho thuê 70 năm không kiếm soát để rồi sau đó còn lại là một thành phố hay vùng miền xa lạ. Nơi vùng đất cho thuê ấy người nghèo không có cửa để vào thì Yàng ơi còn gì là quê cha đất tổ. Con người không có ký ức, không có kỷ niệm với nơi mình ở thì tình yêu dành cho nó chỉ là một hình bóng nhạt nhòa.
Vào tổng hành dinh Núi Chúa
Tôi đã từng có ý định tìm về Núi Chúa từ một cuộc gặp gỡ vô tình. Chuyện bắt đầu từ một cựu binh Mỹ cách đây 9 năm tại một quán cà phê ven hồ Xuân Hương, Đà Lạt. Lúc ấy, tôi tình cờ gặp một người Mỹ có tuổi mất chân trái ngồi một mình nhìn ra dòng người một cách tuyệt vọng. Tôi đoán, chắc là vị lữ khách có tâm trạng, nên chủ động mang ly cà phê đến làm quen với hy vọng có thể sưởi ấm con người viễn xứ. Gặp được người nói cùng ngôn ngữ, cùng mẫu số chung ông mừng lắm rồi tự giới thiệu tên mình là Dan, cựu thượng sĩ của lữ đoàn Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đã từng đóng quân 6 tháng tại Núi Chúa vào năm 69 của thế kỷ trước. Ông Dan đập tay vào chân khuyết bảo rằng ông đã để lại một phần cơ thể mình tại Núi Chúa vì trúng mìn của ViSi (Việt Cộng). Lần sang Việt Nam này ông muốn về lại chiến trường xưa để nhớ một thời trai trẻ. Dan nhờ tôi dẫn đường đến Núi Chúa nhưng tôi từ chối vì không biết địa danh này ở đâu, mà thực ra cũng chưa tin được một người mới quen vài phút. Ông Dan ngồi khóc, những giọt nước mắt của người chiến binh già lăn tròn trên má khiến tôi không khỏi chạnh lòng. Chiến tranh không phải trò đùa, đằng sau cuộc chiến còn một thứ khác dai dẳng hơn là tình người, tuổi xuân và nỗi đau mất mát…
Lâu rồi tôi không gặp lại ông Dan, nhưng mỗi lần gặp hoặc đi phiên dịch cho các cựu binh Mỹ tôi lại nhớ về Núi Chúa, nhớ giọt nước mắt của một người lính già trong tuyệt vọng rồi nhớ những thương binh nước mình của hai phía. Suy cho cùng, sau cuộc chiến tranh, nhân dân là người bị thiệt và nỗi đau lớn nhất thuộc về những người mẹ một thời mang nặng đẻ đau với niềm hy vọng về khúc ruột của mình.
12 giờ trưa chủ nhật, chúng tôi đến đại bản doanh vườn quốc gia Núi Chúa tại thôn Thái An, xã Vĩnh Hải, Ninh Hải, Ninh Thuận. Đó là một tòa nhà khá hiện đại quay mặt ra hướng Đông cách biển khoảng 200m. Thật không may cho chúng tôi đúng vào ngày nghỉ nên văn phòng trống hoe, chỉ có hai anh em kiểm lâm dân tộc Chăm là Đào Anh Dũng, Đạt Đông Đoàn Trẻ. Tuy nhiên vẫn còn may mắn là gặp được Thạc sĩ Trương Thanh Trịnh, 36 tuổi, người Chăm là Phó phòng khoa học và quan hệ quốc tế cùng với các nhà côn trùng học người Bỉ, Đức còn ở lại vườn để nghiên cứu loài bọ mới phát hiện.
Joachim Bresseel, nhà côn trùng học người Bỉ mang cho tôi xem 5 con bọ quê (tiếng Anh là Stid) đang ngo ngoe trong hộp vừa bắt được trên đỉnh Núi Chúa đêm qua. Joacchim nói với tôi một cách sung mãn: “Ông xem đây! loại Stid này có mặt trên trái đất này từ năm 1876, sau đó bị tuyệt chủng đến nay lại xuất hiện tại khu bán hoang mạc này đó là một điều lạ. Mấy năm nay chúng tôi đi hết các vườn quốc gia Châu Á, đêm qua gặp chúng tại đây. Loại này thường sống về đêm trên đỉnh núi, phải vất vả lắm mới tìm thấy. Joachim gấp một con ra dứ dứ trước mặt tôi và cười rất mãn nguyện về công việc của mình. Tôi không phải là người nghiên cứu côn trùng nên nhìn loại bọ nào cũng như nhau, thậm chí không mấy hứng thú nhưng nhìn vẻ mặt của họ tôi phải vỗ tay đôm đốp chúc mừng, vì đó là công sức mồ hôi và những đêm thức trắng tận trên đỉnh núi cao, chỉ có những người yêu nghề mới lặn lội như thế. Joachim nói chuyện phím với tôi bằng tiếng Pháp lẫn tiếng Anh nhưng khi gặp nhóm nghiên cứu anh chuyển sang tiếng Đức và tiếng Hà Lan. Tất cả 4 ngôn ngữ anh ta đều sử dụng thông thạo như nhau làm tôi thật sự trân trọng. “Ở Bỉ giới trí thức thông thạo 3 ngôn ngữ chính của thế giới Anh-Pháp-Đức, còn dân thường thì sao?”, tôi hỏi. “Trời! Chúng tôi là cộng đồng Châu Âu, nếu không biết 3 ngôn ngữ này sẽ trở thành rào cản. Văn hóa Châu Âu là của chung, nên phần đông đều như thế!”, Joachim vỗ vai tôi một cách thân tình như ngầm báo đó là chuyện nhỏ…
Thạc sĩ Trịnh bận việc phải về Phan Rang cùng với nhóm nghiên cứu bò sát. Trước khi lên xe, Trịnh bảo chúng tôi ghé thăm hang rái, làng Raglay nhờ họ dẫn trèo núi sau đó nên đi Vĩnh Hy và Bình Tiên. Nếu không đi hết khu vực này coi như chưa biết gì về khu bán hoang mạc của Việt Nam.
Đường lên Núi Chúa
Chúng tôi rời tổng hành dinh trong luyến tiếc. Cũng may gặp được một nhóm dân “phượt”, trên vai lỉnh kỉnh máy ảnh. Họ đã đến đây nhiều lần, được kỹ sư Phạm Văn Xiêm, Trưởng phòng bảo tồn vườn quốc gia Núi Chúa hướng dẫn, nên có vẻ khá thông thạo đường đi nước bước.
Trưởng đoàn của nhóm thanh niên này là một “Ta ba lô” có “số má” ở Việt Nam từng 3 lần leo đỉnh Fansipan. Anh tên là Nguyễn Hùng Sơn 30 tuổi, da ngăm đen, đầu quấn khăn rằng với thân hình lực lưỡng như con gấu mẹ vĩ đại. Sơn cho biết lên đỉnh núi Chúa còn khổ hơn leo nóc nhà Đông Dương ở ngoài Bắc, vì đường lên núi Chúa không dốc đứng hiểm trở như Fansipan, nhưng lại dài và loanh quanh qua hết đỉnh núi này sang đỉnh núi khác với cái nắng như nung, cây rừng cũng sắt se, cành nhỏ xíu, gai nhọn tua tủa, chạm vào chiếc lá cũng thấy nhói. Nhưng cũng nhờ thế mà mỗi cây xanh trên đá tự biến hình theo kiểu bonsai với hình thù đẹp mắt.
Chúng tôi khởi hành từ thôn Đá Hang thuộc làng Raglay, càng lên cao, cây cối xanh hơn và nhìn biển rõ hơn. Cứ qua một rừng cỏ tranh, lại thấy một đỉnh núi mới ngay trước mặt. Hùng Sơn nói đùa rằng để chinh phục đỉnh núi Chúa cao 1.040m, phải vượt qua 6 đỉnh núi khác là núi Chúa chắt, Chúa cháu, Chúa em, Chúa anh, Chúa chồng, Chúa vợ. Biết chúng tôi là người viết và có tuổi, nên hai cô gái trong đoàn luôn đi bên cạnh động viên vì sợ bỏ cuộc. Một cô nói: “Không ở đâu lạ như Núi Chúa chú ạ! Nơi đây quy tụ cả ba hệ sinh thái: rừng khô hạn, rừng xanh và hệ sinh thái rạn san hô. Ngoài những rạn san hô được đánh giá là đẹp và đa dạng nhất Việt Nam, còn có bãi Thịt là nơi rùa lên đẻ. Do khí hậu nóng và khô nên ở độ cao dưới 600m là rừng bán hoang mạc với những loài cây bụi, lá cằn cỗi đầy gai, nhưng từ 600m trở lên là rừng xanh với thảm động thực vật phong phú, và từ 800m trở lên là xuất hiện nhiều loại cây lá kim, như cây hoàng đàn giả, cây kim giao, thanh tùng, thông tre. Chúng cháu đi nhiều nơi chưa thấy ở đâu lạ như thế!”.
Trèo núi được hơn 1 giờ đồng hồ, cảm thấy không thể tiếp tục được nữa nên chúng tôi ra hiệu xin dừng lại, vì thực ra chúng tôi chưa chuẩn bị tâm lý và thực phẩm mang theo. Nên đành vẫy tay chào tạm biệt mang theo nỗi buồn của người thua cuộc.
3h chiều, chúng tôi quay về làng dân tộc Raglay nằm trong vùng đệm của vườn quốc gia, ngồi dưới bóng câu điều uống nước mía và nhai mì tôm sống cầm hơi và cũng để thăm hỏi cuộc sống của bà con. Một người dân địa phương, tên là Lê Thành Công ngồi cùng bàn nước mía nói với chúng tôi bằng giọng buồn buồn “ Bà con Raglay ở đây đã bao đời, sống dựa vào rừng như làm ruộng, làm rẫy, lấy mật, lấy sáp và các loại lâm sản. Phụ nữ và trẻ em chặt củi bán. Đàn ông thường sống bằng nghề đốt than tại 8 thôn như: Cầu Gãy, Đá Hang, Kiền Kiền, Ấn Đạt, Suối Đá, Suối Giếng, Xóm Bằng, Xóm Đèn. Riêng thôn Đá Hang được hưởng chính sách từ chương trình 134, có nhà xây kiên cố. Nhưng đa số đóng cửa, để vào rừng kiếm sống. Ở nhà chỉ có phụ nữ nuôi con nhỏ và trẻ em. Chị Lâm Thị Vui, dân tộc Raglay, người bán nước mía nghe chuyện cũng tham gia: “Bà con tụi tui sinh ra ở rừng, lớn lên từ rừng mà không vào rừng kiếm ăn thì biết làm gì bây giờ...”.
Tám Công là người từng trải, kiến thức rộng, anh có vườn tại vịnh Vĩnh Hy, hàng ngày qua lại đường núi Chúa nên khá rành. Anh kể: Dạo năm 2005, một chuyên gia người Đức thuộc Quỹ bảo vệ động vật hoang dã (WWF) xách máy móc thiết bị đến đo mức độ khô hạn ở Vườn Núi Chúa. Ông ta đo tới, đo lui hằng giờ, không thấy đồng hồ đo nhúc nhích, ông tưởng máy hư, mở ra sửa. Nhưng thực tế máy không hư, nguyên nhân chỉ vì vùng đất này quá khô đến mức máy không thể lập trình được. Sau đó vị chuyên gia đánh dấu vào mấy thân cây cóc rừng để năm sau trở lại. Còn ở làng chài Thái An, có một người đàn ông nổi tiếng sát rùa, tên là Mười Nuôi. Ông Mười không nhớ mình đã lật lưng bao nhiêu rùa biển, chỉ biết rằng hơn 75 tuổi đời, 60 năm ăn thịt rùa, dân ở đây gọi rùa biển là đú. Do thành tích “quá hớp” nên người làng ở đây chẳng mấy ai còn nhớ cái tên Mười Nuôi của ông, mà họ chỉ gọi ông là Mười Đú. Thế nhưng, đến lúc tuổi già, giã từ nghề sóng nước, ông luôn sống trong cảm giác tội lỗi trước biển đời. Người đàn ông chuyên ăn rùa năm xưa, giờ lại tình nguyện đỡ đẻ cho rùa. Ngày ngày, ông theo vết chân rùa nối đuôi nhau lên bãi, tìm ổ trứng của chúng, khoanh vùng, canh giữ cho trứng nở. Có khi rùa đẻ trên sát mép nước, ông sợ nước triều lên, ổ trứng sẽ bị hư, ông lọ mọ dời ổ lên chỗ cao hơn. Đến khi rùa nở, ông lại tìm cách đưa chúng ra biển. Một vài người trong làng thấy ông vất vả đỡ đẻ cho rùa, họ cũng tình nguyện theo ông. Đến năm 2003, khi WWF Đông Dương tài trợ dự án bảo tồn rùa biển, Vườn Núi Chúa xây được một cái trạm nho nhỏ, lợp tôn nóng như “lò bánh mì”, nhưng cái trạm heo hút này đã trở thành chốn đi về của ông suốt 4 năm qua.
Trên đường đi về hướng Bình Tiên, gặp 2 thanh niên chở than ra khỏi rừng bằng xe máy “đa quốc gia” chạy ngược lại Vĩnh Hy. Chúng tôi tăng tốc đuổi theo, đến khi tiếp cận, một chú quay sang nói như hét “ Đừng báo kiểm lâm nha! Tụi tui dân chở than mướn kiếm ăn được 50 ngàn một chuyến, tụi này ngán mấy ổng nên chờ trưa chủ nhật mới đi mà!”. “Thế một lò than ra kiếm được bao nhiêu tiền”, tôi hỏi muốn át tiếng động cơ của hai xe máy cùng lúc. “Hỏi mấy thằng cha đốt than chứ! Tụi nó đang trốn dưới suối, nhưng tha nó đi, nó nghèo khổ lắm, thằng nào cũng ốm nhách, đen thui hà!”. Chúng tôi giảm ga để quay đầu xe còn nghe hai em thồ than chào tạm biệt bằng hai tiếng “Bái bai!”. Người trẻ ở rừng vẫn mang trái tim nhân bản hơn ở phố.
Vịnh Vĩnh Hy và bãi biển Bình Tiên đẹp đến mức mê hồn. Vĩnh Hy được hai dãy núi đá bao bọc ở giữa là hồ nước biển ra vào, hàng ngày có vài trăm thuyền cá neo đậu đủ sắc màu. Biển Bình Tiên đẹp như tranh vẽ, các hòn đảo xanh ngát bóng dừa. Nghe Tám Thạnh nói vùng Bình Tiên trên đất liền là của Ninh Thuận còn dưới biển là của Khánh Hòa.
* * *
Trên đường ra Mỹ Thạnh, ghé quán cà phê, nghe những người địa phương bàn tán với nhau dự án khu du lịch Bình Tiên có quy mô 195 ha với tổng đầu tư 550 tỷ đồng, trong đó có 30 ha đất rừng phòng hộ thuộc vườn Núi Chúa. Tập đoàn khách sạn Aman chính thức khai trương khu nghỉ dưỡng mang tên Amanoi resort có 36 villa, tọa lạc trên đồi Vĩnh Hy. Đây là một cố gắng của nước mình vươn lên ngành công nghiệp không khói mang lại lợi ích quốc gia. Nhưng trong tâm thức, tôi cứ nhớ đến Jeff Rutherford, giảng viên về môi trường của đại học Thái Lan. Lần gặp tôi ở hồ Tuyền Lâm, Đà Lạt, Jeff lầu bầu “Nơi nào cũng muốn du lịch kèm theo sinh thái. Sinh thái cái nỗi gì mà chỗ nào cũng đổ bê tông, đường nhựa thẳng tấp, điện đuốc sáng trưng, nhà cao cửa rộng kèm theo bể bơi bự chát mà gọi là sinh thái!”