Tất nhiên chỉ là âm thầm, bởi những nghề, những giá trị văn hóa đó đã không còn phù hợp với thời cuộc, chỉ còn được nhớ tới như ánh hào quang của vàng son một thời.
Những ai quan tâm tới văn hóa cổ đất kinh kỳ còn nhớ rõ tới tay nghề tài hoa của cụ Lại Phú Bàn thời xưa, nghệ nhân duy nhất giữ được bí quyết làm giấy sắc phong của dòng họ trên đất cổ làng Bưởi. Cho tới nay cụ quy tiên đã tròn 10 năm, và kẻ hậu bối là tôi vẫn còn nhớ như in vị thơm của chén rượu ngâm kỳ tử xưa kia cụ đãi nhân buổi tới phỏng vấn. Đã quá nhiều bài viết, chương trình TV về truyền nhân của dòng họ tài hoa, đã có quá nhiều đề nghị tới các tổ chức về việc phục dựng vốn xưa nghề cũ, nhất là với giấy sắc phong, thứ giấy kỳ ảo có thể lưu hàng trăm năm không mục nát, trên mặt giấy lấp lánh ánh vàng và vờn tung họa tiết tứ linh, long vân…
Làng cổ xưa bên bờ hồ Tây nay đã thay đổi nhiều lắm, chẳng còn đâu tiếng giã, tiếng nghè giấy thậm thịch buổi đêm, cũng chẳng còn đâu chất liêu trai kỳ ảo phảng phất trong truyện Xác Ngọc Lam mà trong đó cụ Nguyễn Tuân đã đưa cả nàng tiên rừng về xe duyên với chàng trai con nhà làm giấy. Làng Bưởi, làng Hồ bây giờ thành phố, san sát nhà cao tầng, những bến nước, phiến đá xanh, nếp nhà cột gỗ lim xưa đã tan vào dĩ vãng, kéo theo đó là hào quang của nghề làm giấy sắc phong. Tất nhiên dòng họ Lại vẫn giữ được nghề, song quy mô sản xuất thì chỉ giới hạn theo những đơn đặt hàng và thường từ nước ngoài.
Rất đáng tiếc cho nền văn hóa của đất nước nếu một ngày xã hội sẽ chẳng còn mấy ai quan tâm tới những tấm giấy bền, dai, lấp lánh ánh vàng ánh bạc và tất cả chỉ chúi đầu vào màn hình để mong được like cho các câu nói và tấm ảnh được quẳng lên FB suốt ngày đêm. Câu view đã trở thành nỗi khát khao của mọi cá nhân cô đơn trong đám đông, cũng như tặng quà, tặng hoa và share nhau thông tin trên mạng đã trở thành thói quen thường trực của số đông. Vậy mà cho tới nay, tôi vẫn được vài người bạn ở hải ngoại nhờ lên Bờ Hồ khắc cho vài cái bút để gợi nhớ kỷ niệm về thời xưa cũ, thời món quà tặng người đi xa là cây bút khắc chữ và hình đầy ước vọng.
Ngày xưa, những năm mà tiếng chuông tàu điện cứ lanh canh suốt ngày từ chợ Mơ lên Bờ Hồ rồi xa hút về mạn Nghi Tàm thì rất dễ bắt gặp những người thợ khắc bút ngồi quanh Bờ Hồ. Họ ngồi quanh Bờ Hồ, đôi khi tản sang cả mấy con phố Hàng Đào, Hàng Bông… chờ khách hàng mang tới những cây bút Kim Tinh, Trường Sơn thuê khắc. Hình và chữ khắc trên bút thì muôn hình vạn trạng, nhưng phổ biến vẫn là tên 2 người lồng vào nhau kèm theo hình trái tim hoặc chim bồ câu, khi thì là những câu thơ ngắn hoặc hình cây dừa. Người miền
Cùng kiểu cách đó còn có khắc lược, tất nhiên dù chất liệu gì thì thợ khắc vẫn có thể đưa lên đó những nét bay bướm. Lược có lược cán sừng của những gia đình giàu có, lược bí bằng tre cật, rồi lược nhựa sản xuất từ các nhà máy quốc doanh và cơ sở tư nhân, khó nhất là lược cắt từ mảnh duyra xác máy bay. Thời hậu chiến, những chiếc lược duyra đó được coi là tài sản lớn lao của 1 đời người, chứa đựng biết bao kỷ niệm, khi được khắc lên những vần thơ, lời hẹn ước… chắc hẳn đã mang lại cho cõi đời này niềm thương, nỗi nhớ lớn gấp nhiều lần chiếc nhẫn hạt xoàn thời nay. Nghề của thợ khắc bút Bờ Hồ là như thế, cần mẫn trao cho đời lời thề nguyện, kỷ niệm, ước hẹn chẳng bao giờ phôi pha.
Cho tới giờ này, chỉ còn lại ông Lê Văn Quý năm nay đã 78 tuổi cặm cụi theo nghề khắc bút, khắc lược, hàng ngày ngồi dưới bóng cây đa già bên đền Bà Kiệu để mơ màng tới những chuyện ngày xưa cũ và ngóng vài khách hàng còn thích dấu ấn xưa. Nhìn ông thơ thẩn chơi với mấy anh xe ôm, bán nước quanh hồ, tôi lại nhớ tới bà Nguyễn Thị Quế, bà lang già của làng thuốc nam Đại Yên. Mới chưa xa xôi gì, khắp các gia đình ở Hà Nội có mấy ai không biết vài thứ lá chữa bệnh đơn giản. Đến như trẻ con ngày trước cũng biết dịt vết đứt chân tay bằng lá bỏng, biết tự bứt lá rẻ quạt ngậm ho, còn người lớn tất nhiên rất quen với các gánh hàng thuốc trong chợ. Ngày trước những bệnh ho hen, cảm sốt đơn giản nhất là kiếm nắm lá đun lên, vừa lành vừa rẻ, mà lại hữu hiệu, do đó nghề trồng và chữa bệnh bằng lá thuốc rất phát triển. Thế nào mà thói quen đó biến mất và thay bằng các tiệm thuốc tây, ở đó người bán thuốc kiêm luôn bác sĩ chẩn bệnh, và người Hà Nội giờ đây chỉ còn biết tới những viên thuốc đầy hóa chất, cứ nhức đầu sổ mũi là lại chạy ra mua vài viên.
Bà Kiệu.
Nghề thuốc nam thế là tàn lụi, kéo theo sự xâm lấn của nhà cửa khiến danh tiếng của làng hoa Ngọc Hà chỉ còn là kỷ niệm, vậy mà kề sát đó, trong làng cổ Đại Yên vẫn còn cặm cụi 1 bà cụ già kiên quyết không bán đất, cố giữ cho bằng được mảnh vườn để gìn giữ nghề xưa. Người quen biết vẫn tìm tới tận nhà, nhờ bà chỉ cho những phương thuốc cực kỳ giản dị mà hiệu nghiệm. Tôi không rõ mấy sạp hàng lá ở trong chợ Ngọc Hà và ở cổng làng Đại Yên có phải là họ hàng của bà hay không, nhưng qua nhiều lần mua và đưa người quen tới mua thuốc trong chợ, tôi nhận ra những người trồng và bán thuốc nam có đặc tính rất giống nhau, vừa tốt bụng, vừa dễ mến. Cái cách hướng dẫn, bán hàng nhẹ nhàng ân cần ấy chỉ có ở người Hà Nội xưa. Điều này, thật đáng tiếc, đang bị phôi pha dần nơi phố lớn, ở đó người ta quát mắng nhau ầm ĩ, mắng khách, chửi nhân viên xơi xơi và vẫn vênh vang đó mới là kiểu cách Hà Nội thời tân tiến.
Những ánh hào quang quá khứ, những nét đẹp vàng son ấy có cái còn, có cái mất, nhưng chúng đã từng tạo nên nét đẹp trong đời sống Hà Nội xưa. Thời gian trôi mải miết, chắc rồi cũng sẽ có lúc người ta không còn mấy ai nhớ nhiều tới chuyện cũ, nhưng cái gì có giá trị thật thì vẫn cứ là vàng son, còn những điều phù hoa thì sẽ trôi theo dòng nước của lãng quên mãi mãi