Chưa biết thầy trò ông Hoàng Văn Phúc có làm được điều kỳ diệu gì hay không nhưng nhìn hình ảnh đội tuyển U-23 trong lễ xuất quân của Đoàn thể thao Việt nam khu vực phía Nam ở Bình Dương hôm 23/11 vừa rồi, tự nhiên không ít người nghĩ đến một luồng ý kiến cách đây chưa lâu cho rằng “nên chăng đưa U-19 đi tham dự SEA Games thay vì đưa đội U-23”. Tất nhiên, quan điểm cho rằng “đề cao U-19 thái quá có thể làm hại chính các cầu thủ trẻ ấy” cũng là một nhận xét có logic, đúng đắn và mang tính xây dựng. Song, những quan điểm trái ngược cũng có cái lý của nó.
Tất cả đều xoay quanh việc phát triển bóng đá trẻ Việt Nam mà thôi và những ai đau đáu về bóng đá trẻ đều là những người đau đáu về tương lai của cả nền bóng đá cả. Chỉ có điều, từ đau đáu đến thực thi lại là hai vấn đề khác nhau và chính câu chuyện tranh luận kể trên đã khiến chúng ta phải suy nghĩ rất nhiều về công tác phát triển bóng đá trẻ ở Việt Nam.
Ai cũng biết, lò đào tạo trẻ hiện đại, hiệu quả nhất hiện nay chính là lò Hoàng Anh Gia Lai, nơi có sự kết hợp đáng quý với một trong những trung tâm hàng đầu trên thế giới: CLB Arsenal. Ở rất nhiều giải vô địch trẻ trong nước thời gian qua, những người hâm mộ đã tỏ ra quan tâm đặc biệt đến những cầu thủ trẻ con cưng của bầu Đức. Và dù những sản phẩm xịn, chính hiệu đóng mác Arsenal chưa nhiều dịp “trưng hàng” thì những đánh giá dành cho lứa trẻ HAGL vẫn luôn luôn vô cùng tích cực. Người hâm mộ nhìn thấy ở đó chất lượng cao ở kỹ-chiến thuật; tư duy bóng đá hiện đại cùng thể hình, thể chất vô cùng lý tưởng.
Song, cũng nhiều đánh giá cho rằng các cầu thủ trẻ HAGL khéo thì khéo thật nhưng vẫn còn “khờ” quá và đó là hệ quả tất yếu của việc “kín cổng cao tường”, ''bảo mật công nghệ'' của chương trình đào tạo Phố Núi. Nhưng suy cho cùng, cái khờ của các cầu thủ trẻ HAGL cũng chỉ là cái khờ của đa số các cầu thủ trẻ Việt Nam mà thôi. Dễ hiểu, họ có quá ít cơ hội để được cọ xát, cạnh tranh đúng nghĩa.
Chúng ta có đầy đủ hệ thống các giải trẻ, từ U-13 cho tới tận U-21 nhưng thực tế, những giải đấu ấy (đặc biệt là ở các lứa tuổi bản lề như U-17; U-19; U-21) lại chưa được tổ chức một cách chu đáo nhất, khoa học nhất, có lợi ích thiết thực với cầu thủ nhất. Giải trẻ ở Việt Nam vẫn chỉ xoay quanh công thức thi đấu vài trận vòng loại rồi sau đó những đội được tham dự vòng chung kết sẽ thi đấu tập trung với nhau trong khoảng 10 ngày hay 2 tuần gì đó. Như vậy, số lượng trận đấu cạnh tranh của các cầu thủ trẻ quá ít so với nhu cầu thực tế của đào tạo.
Lẽ ra, trung bình mỗi cầu thủ trẻ cần phải được chơi khoảng 30 trận cạnh tranh và rải đều suốt mỗi mùa giải, nhưng các lứa trẻ Việt Nam không được tạo điều kiện để chơi bóng thường xuyên như thế. Với họ, chỉ là tập rồi thi đấu giao hữu như kiểu đá suông. Nếu qua được vòng sơ loại thì mỗi năm có thêm chục ngày thi đấu ở một giải đấu tập trung. Xong giải lại về tập chay như thường nhật mà thôi. Thử hỏi, với mật độ, cường độ hoạt động như thế, làm sao họ có thể trở thành những cầu thủ chất lượng?
Vậy mà LĐBĐ Việt Nam lại gần như phó mặc các giải trẻ quan trọng đó cho các đơn vị hợp tác, mà cụ thể là các tờ báo như Thanh niên, Bóng đá. Báo chí tham gia với vai trò bảo trợ thông tin thì ổn chứ báo chí nhảy vào cả việc tổ chức thì chẳng ổn tí nào. Nhưng suy cho cùng, may là còn có các tờ báo ấy tham gia với Liên đoàn. Nếu không có họ, chưa chắc gì giải đã được diễn ra thường niên như hiện thời.
Trong khi đó, ở các nước khác, hệ thống giải trẻ được tổ chức song song với giải chuyên nghiệp và cũng chơi với thể thức vòng tròn hai lượt tính điểm. Như vậy, mỗi tuần các cầu thủ trẻ ít nhất có 1 trận cạnh tranh để thu thập kinh nghiệm thực tế. Chính kinh nghiệm thực tế đó khiến cầu thủ trưởng thành hơn, tiếp cận với mức độ chuyên nghiệp nhanh hơn.
Câu chuyện ấy của bóng đá trẻ cũng chính là câu chuyện nhức nhối chung của cả nền giáo dục Việt Nam hôm nay. Chúng ta nặng về lý thuyết quá mà xem nhẹ phần thực hành trong khi chính thực hành lại là con đường chuyển tải lý thuyết một cách mạch lạc nhất, bởi nó gắn học trò với những trực quan sinh động. Không biết bao nhiêu cử nhân, kỹ sư tốt nghiệp với tấm bằng loại ưu nhưng đến cái công văn cho đúng chuẩn cũng làm không ra hồn. Đó chỉ là một ví dụ nhỏ nhoi trong vô vàn các ví dụ về đào tạo thiếu bóng thực hành. Phải chăng, trong tâm thức người Việt còn nặng suy nghĩ muốn làm thầy người khác nên coi thực hành không phải là điều đáng quan tâm?
Và chính vì thế, những người “Làm thầy” nói không với thực hành đã tạo ra những lớp học trò như mình, thậm chí còn tệ hơn mình, chỉ vì phần LÀM đã luôn bị coi nhẹ hơn phần NÓI…