Giữa tôi và Điện Biên là kí ức về ông ngoại
Năm 1951, ông ngoại tôi bị địch bắt. Trong suốt thời gian 8 tháng bị giam giữ, ông ngoại tôi liên tục bị tra tấn, đánh đập. Những chỗ bị tra tấn vẫn còn hành ông trong suốt những năm sau này. Mỗi khi tiết trời thay đổi, khớp đầu gối, khớp mắt cá chân lại thâm đen, nhức buốt. Ông tôi trải qua sự nhức buốt ấy bằng cách kể cho chúng tôi nghe chuyện đi kháng chiến. Những câu chuyện cười vui đến chảy nước mắt. Lại cả câu chuyện về Hòa Bình những năm miền Bắc xây dựng CNXH. Lồng trong những câu chuyện của ông tôi, Hòa Bình xưa mang vẻ đẹp vừa gần gũi, vừa huyền thoại. Đẹp thật như sau này, tôi đọc được trong trang viết của Pierr Grosin - một người Pháp - với hồi ức về Hòa Bình: “...Buổi chiều như một con rồng lửa khổng lồ lướt nhanh và kéo dài trên những triền núi…”. Người Hòa Bình thân thiện mà gan góc, lội suối, băng rừng đi tải đạn, tải lương cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Những năm tháng tải đạn, tải lương, đi bên cạnh những bao gạo nặng trịch nhưng ông tôi và đồng đội vẫn bẻ măng rừng ăn thay cơm. Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng. Ông được công nhận chiến sĩ dân công xuất sắc mặt trận Điện Biên Phủ. Sau chiến dịch, ông lại phục vụ đất nước ở một mặt trận khác, không kém phần cam go. Trong cả hai mặt trận - mặt trận cứu quốc và mặt trận xây dựng CNXH, ông tôi đều được tặng thưởng bằng khen, huân, huy chương.
Thế hệ chúng tôi sinh ra khi quê hương đã im tiếng súng. Chiến tranh với gian khổ, hi sinh, mất mát đã lùi vào quá khứ. Chúng tôi hình dung về chiến tranh qua những bài học trong sách lịch sử. Cuộc sống hiện tại đang dần cuốn chúng tôi vào những lo toan cho cá nhân mình.
Ngày trước, còn có ông ngoại kể cho tôi nghe chuyện đi kháng chiến, đi tải lương cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Vừa nghe chuyện, tôi vừa hình dung về những gian khổ, hi sinh của thế hệ cha anh khi tận mắt chứng kiến mỗi khi trở trời, nơi mắt cá chân, nơi khớp đầu gối của ông ngoại tôi lại thâm đen, nhức buốt. Lúc ấy, ông đang trải qua nỗi giày vò, đau đớn kéo dài dù đã thoát khỏi sự giam cầm, tra tấn của kẻ thù. Không biết bao lần tôi tự hỏi nếu không có lòng yêu nước, sự can đảm, sẵn sàng hi sinh vì độc lập của thế hệ cha anh, của những người như ông ngoại tôi thì ngày hôm nay sẽ ra sao? Rồi từ những câu hỏi ấy, tôi ao ước có lần được tới thăm Điện Biên – nơi ghi dấu chiến thắng lẫy lừng của dân tộc, nơi ông ngoại tôi đã góp một phần nhỏ bé. Giữa tôi và Điện Biên khởi đầu là kí ức về ông.
Tìm mế Đôi ở Mường Phăng
Tháng hai, nắng trải nhẹ, trên khắp các con đường cờ đỏ sao vàng bay phấp phới... Chiến tranh đã lùi xa vào quá khứ. Đây đó trong cuộc sống hiện tại, chúng ta vẫn gặp, vẫn còn được nghe những người lính trở về từ chiến trận kể lại những câu chuyện về một thời đại anh hùng. Đã gần sáu mươi năm trôi qua kể từ ngày chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử vang động địa cầu. Những cựu chiến binh Điện Biên nay còn lại những ai?
Như có một luồng xung điện chạy qua, câu hỏi đó khiến tôi thảng thốt giật mình. Ừ nhỉ, gần sáu mươi năm đã qua rồi. Sáu mươi năm đủ khiến cậu bé con năm nào lớn lên và bước vào tuổi hưu trí. Chàng trai trẻ - người lính Điện Biên năm xưa nay có còn cũng đã là những người già lão. Họ - những chứng nhân sống của một thời đại anh hùng nay còn lại bao người? Liệu tôi có may mắn được nghe chính những chứng nhân sống ấy kể lại chuyện xưa?
Ngày giữa tháng 2/2014, tôi có dịp tới thăm Điện Biên Phủ khi thành phố lịch sử đang hoàn tất công việc cho dịp kỉ niệm trọng đại: 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ.
Đặt chân tới Điện Biên, tâm nguyện của tôi là tìm gặp mế Đôi, chứng nhân cuối cùng còn sống khi cùng được làm việc nơi căn hầm chỉ huy với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Và, tôi đã gặp được mế Lồi tại Mường Phăng, được nghe mế kể chuyện đời mình, chuyện kháng chiến, chuyện được cùng tham gia công tác gần Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở Mường Phăng. Mế kể, nhà mế nghèo lắm. Lên một tuổi, mế đã mồ côi cả cha lẫn mẹ. Hai chị em mế ở với ngoại và được bà ngoại nuôi dưỡng. Mế Đôi, người em gái năm xưa tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ nay đã ở tuổi bách niên. Ngày ấy, mế Đôi nguyên là Trưởng ban Vận động lương thực phục vụ cho Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, năm 1954; người duy nhất ở Mường Phăng còn sống may mắn được làm việc cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Mế kể, ngày đó, mế được Đại tướng giao nhiệm vụ dẫn đơn vị công binh đi khảo sát địa hình để bắt đầu xây dựng Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ. Mế còn nhớ như in những lần được nhận lệnh trực tiếp từ Đại tướng. Mế cũng hiểu mình là Trưởng ban Dân vận của địa phương, luôn phải tích cực tuyên truyền cho bà con hiểu, đặng tiếp thêm sức mạnh cho quân ta trong chiến dịch. Nhưng, nhiệm vụ quan trong nhất vẫn là giữ bí mật trong việc xây dựng căn cứ chỉ huy. Hoạt động dân vận khó khăn, vất vả và không ít hiểm nguy nhưng với mế, đó là những ngày tháng đẹp đẽ khi được cùng làm việc với vị Đại tướng tài ba, đức độ, đã góp phần cùng quân và dân ta làm nên chiến thắng phi thường.
Năm ngoái, khi nghe tin Đại tướng mất, mế đã khóc. Cả mế và cánh rừng Mường Phăng như nghẹn đi vì xúc động. Hôm nay, trò chuyện với tôi, mế vẫn không giấu được sự bùi ngùi. Mế nói: “Đại tướng ra đi, mế cũng muốn được tới ngôi nhà số 30 Hoàng Diệu để thắp hương tiễn biệt Người. Cũng có cơ quan, đoàn thể mong được giúp mế hoàn thành tâm nguyện này nhưng mế biết mình sức khỏe yếu, đôi chân người già đau mỏi, không đi được. Kỉ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, dõi theo dòng người đến thăm căn hầm chỉ huy nơi bản Mường Phăng là mế thấy rất vui rồi. Vui vì gian khổ, hi sinh hôm qua mà có niềm vui hôm nay”.
Cuộc gặp gỡ bất ngờ
Cùng trò chuyện với tôi và mế Đôi ở Mường Phăng hôm ấy còn có một vị cựu chiến binh đặc biệt. Người cựu chiến binh có cha hi sinh trong chiến dịch Điện Biên Phủ và hiện đang an nghỉ nơi nghĩa trang đồi A1. Năm 17 tuổi, khi vừa rời ghế nhà trường, người cựu binh khi đó đã có quyết định quan trọng nhất của cuộc đời mình: gác lại bút nghiên, từ bỏ giấc mơ vào đại học và đến với chiến trường bằng tất cả sự hăm hở, nhiệt huyết cùng niềm tin mãnh liệt. Nhập ngũ cuối năm 1967, trải qua cuộc huấn luyện ngắn, đầu năm 1968, ông đã bắt đầu bước vào cuộc chiến đấu sinh tử trên trục đường 9, lằn ranh giới chết người giữa Lào và Việt
Trò chuyện với Anh hùng Lê Mã Lương tại Mường Phăng.
Không thể ngờ được người đang trò chuyện với mình và mế Đôi tại Mường Phăng khi đó chính là Anh hùng Lê Mã Lương – người anh hùng chống Mĩ đã viết vào trang sử Việt Nam những chiến công vẻ vang cùng câu nói đã trở thành bất hủ của thời đại chống Mĩ: “Cuộc đời đẹp nhất của tuổi trẻ là trên trận tuyến đánh quân thù”.
Hiện nay, vị tướng đã nghỉ hưu dành nhiều thời gian cho gia đình, đọc sách, tỉa cây, tập thiền và dồn công sức vào đề tài “Bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử Quân sự Việt
Riêng với di tích Điện Biên Phủ, ông có trên mười hai năm gắn bó với công tác bảo tồn, nghiên cứu quần thể di tích nơi đây. Với Anh hùng Lê Mã Lương thì công việc bảo tồn di tích lịch sử là công việc không chỉ làm cho người đã khuất mà: “Làm cho người đã khuất là làm cho người sống hôm nay”
Nhận ra người anh hùng chống Mĩ đang cùng trò chuyện với mình và mế Đôi tại bản Mường Phăng – di tích lịch sử hầm chỉ huy nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng làm việc - chỉ huy quân và dân ta làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, tôi nhớ đến chia sẻ của chính Anh hùng Lê Mã Lương trong một cuộc giao lưu trực tuyến với Tri Thức Trẻ tháng 10/2013 khi ông tâm sự về kỉ niệm được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Năm 2004, nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, trong một cuộc gặp với các cựu chiến binh từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ tại TP Điện Biên Phủ, Đại tướng nói: “Hôm nay chúng ta gặp được nhau tại đây là quý lắm rồi!”. Với Lê Mã Lương, câu nói của Đại tướng thể hiện tính nhân văn quân sự, văn hóa của một nhà cầm quân lỗi lạc. Điều đó chứng tỏ Đại tướng rất quan tâm đến sinh mệnh chính trị, đến giá trị sống của con người.
Đã là mười năm qua đi kể từ mốc thời gian đó. Kỉ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại tướng đã ra đi. Mế Đôi, cánh rừng Mường Phăng, triệu triệu con tim người Việt còn nhắc mãi về Người. Ngày hôm nay tôi gặp được mế Đôi, gặp được Anh hùng Lê Mã Lương ngay tại Mường Phăng là may mắn quý giá.
Tôi và Điện Biên, sâu hơn những kỉ niệm!