Đi lễ đền chùa là nhu cầu tâm linh của mọi người dân Việt Nam. Không chỉ có đầu năm, ngày rằm, hay đầu tháng, mà người Việt quanh năm có thói quen lên đền chùa để lễ bái, để cầu an lạc thanh bình, để tĩnh tâm và để cho lòng người được thư thái. Người Việt đến đền chùa vừa là thưởng ngoạn thắng cảnh, vừa thỏa mãn tâm linh. Hạnh phúc cũng lên chùa tạ ơn; đau khổ, bi ai cũng tới chùa sám hối.
Chùa, đền như là nơi để con người được gột rửa tâm hồn mình thanh sạch hơn, trong trẻo hơn sau những vướng bận trần ai. Thế nhưng giờ đây, trong khung cảnh đền chùa miếu mạo Việt Nam thời hiện đại, biết tìm đâu một không gian linh thiêng, thanh tịnh cho cả người đi lễ chùa và người trụ trì coi sóc đền chùa. Đến chùa, đền bây giờ nhiều khi chỉ thấy tham-sân-si của con người chất cao như núi…
Tha hóa chốn tâm linh
Trong tâm thức của người Việt, đền chùa gắn liền với đời sống của người dân. Mỗi làng đều có chùa, mọi người có thể đi lễ chùa để cầu sự bình an, may mắn. Lâu dần, việc đi chùa, đền đã trở thành một nhu cầu, của người dân. Nhà nhà đi chùa, người người đi chùa. Với một cộng đồng mà P.G.S.T.S Nguyễn Văn Huy, Ủy viên Hội đồng Di sản Quốc gia gọi là "cộng đồng ô hợp", với một niềm tin không ai kiểm soát, thì những hệ lụy tất yếu sẽ nảy sinh.
Cảnh chen lấn xô đẩy ở Phủ Tây Hồ, tranh ấn ở đền Trần, giẫm đạp nhau ở đền bà Chúa Kho vẫn là câu chuyện cũ. Và đó là những hệ lụy của khách thập phương mang đến. Nhưng, chính từ cửa chùa, cửa đền, những chốn thanh tịnh, tưởng như không có sự bon chen, mua bán, lại nhan nhản những dịch vụ bán mua, đổi chác. Có cầu ắt có cung. Nhiều chùa lớn ở các ''điểm nóng'' trở thành những địa điểm kinh doanh sầm uất trong những ngày đầu năm.
Đi một vệt qua những "điểm nóng" của lễ hội đầu năm như chùa Phúc Khánh (quận Đống Đa), Bia Bà (quận Hà Đông), Phủ Tây Hồ (quận Tây Hồ) hay xa khỏi Hà Nội như đền Trần (Nam Định), đền Bà Chúa Kho (Bắc Ninh), chùa Hương Tích (Mỹ Đức - Hà Nội), Yên Tử (Quảng Ninh) mới thấy, những dịch vụ "ăn theo" ngay tức khắc được mở rộng. Đâu đâu cũng thấy hòm công đức và những chỗ đặt tiền lẻ được rải đầy các lối đi.
Một người bạn đi cùng tôi xuống đền Trình ở Yên Tử đứng vô cảm trước những ban thờ vừa được lập: "Tôi chẳng thấy những chỗ này có gì linh thiêng, tại sao một nơi non thiêng thế này, mà người ta đặt bao hòm công đức, bao pho tượng phật để hút tiền của người dân. Liệu những bức tượng này có linh thiêng mà người dân cứ cúi lạy sì sụp".
Những ngày đầu năm, cố len chân vào được Phủ Tây Hồ, chùa Phúc Khánh, chùa Tứ Kỳ mới ngẫm thấy một điều chua xót, có lẽ những người nghèo sẽ không bao giờ đến được nơi đây. Bởi bước chân qua cổng chùa, phải qua bao nhiêu công đoạn lễ nghĩa, người dân mới đặt chân đến được chốn linh thiêng.
Cũng xuất phát từ nhu cầu của chính người dân, cầu an, giải hạn, viết sớ… một loạt dịch vụ ăn theo cũng tát nước theo mưa. Muốn làm lễ cầu an giải hạn cho gia đình, nơi ít như chùa Phúc Khánh 100 ngàn đồng, chùa Bà Nành 500 ngàn/năm, còn chùa Tứ Kỳ, dịch vụ này lên hàng triệu đồng (quy định của nhà chùa). Trong khi lẽ ra chùa là nơi cứu nhân độ thế, cầu bình an cho muôn người bằng tấm lòng từ bi của Phật. Việc trả tiền nên tùy tâm người đến.
Ở chùa Phúc Khánh lễ cầu an giải hạn đầu năm luôn là một "điểm nóng" bởi sự thiêng của nó. Nghe đâu có một ông quan lớn về cầu an và sau đó được thăng chức tiến quan ầm ầm, khiến dân chúng tin rằng, chùa này thiêng hơn chùa kia. Họ ảo tưởng, đua chen nhau, mà không hiểu một điều căn cốt của người đi lễ Phật, Phật luôn từ bi nên ở đâu Phật cũng thiêng.
Thế nên chùa Phúc Khánh trở thành một nơi "đắt giá" trong vấn đề cầu an giải hạn đầu năm. Hình ảnh hàng ngàn người nối đuôi nhau chen chúc cả mặt phố Tây Sơn, khiến nhiều người hỏi, vậy sự thiêng sẽ ở đâu. Dịch vụ giải hạn của chùa Phúc Khánh vì thế cũng trở nên đắt đỏ. 100 ngàn cho một người. Mà trong biển người đó, số tiền được nhân lên gấp nhiều lần, sẽ đi về đâu.
Lòng thành đo bằng tiền bạc
Không chỉ chùa Phúc Khánh, Phủ Tây Hồ, mà đâu đâu, những điểm nóng chùa đền đầu năm cũng xuất hiện các dịch vụ "liên hoàn". Trong vai một người đi ''vay mượn'' đầu năm ở đền Bà Chúa Kho, tôi tận mắt chứng kiến các dịch vụ mọc lên như nấm ở đây và ngày càng lố bịch, trắng trợn. Đã qua Rằm tháng Giêng, nhưng đền vẫn đông nghịt người. Từng xe hàng mã được chở về, chất cao như núi. Lâu rồi, ở đây đã có hẳn cả dịch vụ trọn gói dành cho các "đại gia". Họ chỉ việc gọi điện đặt mua hàng mã, có khi lên đến hàng trăm triệu. Chủ nhân chỉ việc rảnh rang ôtô đậu cửa đền đã có người sắp sẵn vàng mã, chất đầy cả gian nhà. Lớn thì làm ăn kiểu lớn, bé làm ăn kiểu bé. Nhưng đâu đâu cũng thấy dịch vụ. Chạm đến là tiền.
Người chèo kéo sắp lễ, viết sớ đứng đầy ngay cổng đền Trình ở dốc suối Hoa. Đường vào đền vàng mã chất đầy. Và có ngay những người đứng ra mời mọc, mua bán. Xong việc mua vàng mã, sẽ có ngay dịch vụ sắp lễ và khấn thuê. Nghe đâu, có những gia đình nuôi hẳn cả một đội quân ở đây chuyên đi khấn thuê. Dù đội quân đó, có kẻ còn không biết chữ. Mỗi ban ít nhất phải trả công 20 ngàn đồng, nhẩm đếm sơ sơ, có đến 10 ban, vị chi mất hết 200 ngàn đồng tiền khấn thuê. Ngay cả việc hóa vàng mã cũng có người hóa giùm.
Tưởng người của nhà đền, hóa ra, phải rút hầu bao trả công. Ngay ở các hòm công đức được đặt đầy lối đi bên cạnh những ban thờ nghiêm cẩn, cũng có người tay cầm chiếc đĩa có hai đồng xu đứng canh bên cạnh, nhắc quý khách bỏ tiền vào hòm công đức. Khi khách vừa thả tiền vào hòm, liền được hỏi tên, địa chỉ, và một tràng khấn cầu xin tài lộc, bình an đầu năm lại vang lên. Người khấn cho tôi là một vị trung niên, còn nói ngọng, vừa khấn, mắt vừa đảo như rang lạc để quan sát và kịp chào mời khách.
Tôi chưa kịp định thần bước đi thì một bàn tay níu lại... xin tiền công. Kết thúc một lần đi vay tiền đầu năm ở đền Bà Chúa Kho, tôi phải rút hầu bao ngót nghét 500 ngàn đồng cho các dịch vụ đi kèm, chưa kể tiền công đức và lễ lạt.
Như vậy, qua mỗi mùa lễ hội, nguồn tiền đổ về chùa là vô kể. Bởi ở chùa nào cũng có ngót nghét hàng chục hòm công đức ''vô danh''. Ngoài ra, mỗi chùa, đền đều có ban góp tiền công đức ''có danh''. Số tiền khủng này, sẽ chảy về đâu?